Regina Pacis Jardin

Khu vườn êm ái nơi tiểu vương quốc Regina Pacis này đây là cõi bình yên, là đất lành bên giòng đời gió bụi ngoài kia. Xin hãy ngồi xuống đây hát cho nhau nghe, đàn cho nhau nghe, gửi cho nhau giòng tâm tư đang thổn thức trong lòng.


... đã chảy về đâu những suối xưa
    đâu cơn yêu mến đến không chờ
    tháng ngày vùn vụt phai màu áo
    của những nàng tiên mộng trẻ thơ  ...

--   Huy Cận   --

RP Sisters

Regina Pacisienne Trần Ngô Hoà là người cao nhất đứng bìa trái


   trên trang này:

         Nhạc:

(Đơn ca Linh Chi)
(Đơn ca Linh Chi)
(Song ca Linh Chi - Trần Ðại Phước)
(Nhạc và lời: Linh Chi.   Hoà âm: Quốc Dũng [VN].   Đơn ca Quang Minh)

        Thơ:

(Thu Hương)
(Tường Vi)
(Tường Vi)
(Nguyễn Tài Ngọc)
(Nguyễn Tài Ngọc)
(Lucille J. Biscaglio)
(Nguyệt Trinh)
(Nguyệt Trinh)
(Nguyệt Trinh)

        Văn :

(Nam Hải)
(Nam Hải)
(Nam Hải)
(Nam Hải)
(Nam Hải)
(Thu Hương)

        Tranh Ảnh :

(Nguyệt Trinh)
(Nguyệt Trinh)


bâng khuâng

Một nửa hạt mưa về đỉnh dốc,
bỏ con sông nhỏ ngủ lại rừng.
Bãi cát vàng tươi sao chiều khóc,
Cho đám mây hồng vướng gót chân.

Dù là đá của ngàn năm trước,
ngắm chim bay mộng vẫn bình thường.
Dù mắt có xanh trong chiều ướt,
vẫn nhớ ngày áo trắng bâng khuâng.

Vũ Thu Hương
reginapacis2001@hotmail.com


đêm

(Giọng ngâm: Hồng Vân)

Có những đêm mênh mang buồn trăn trở
Mộng chập chờn nghe hơi thở của đêm
Ðêm ầm ì ngủ quên trong tiếng gió
Thổi hoang tàn lời huyền hoặc dịu êm

Ðêm thăm thẳm như trùng dương thăm thẳm
Nối ngàn ngày đều đặn nhịp đầm khơi
Nhưng tôi vốn một đời chìm lạc dặm

Quên hoàng hôn và quên cả bầu trời
Ðêm lặng lẽ không rõ hình rõ bóng
Như hình hài người vội nhớ vội quên
Chưa gặp gỡ mà lòng thôi trông ngóng
Chiều tà chưa mà tàn vội ánh đèn

Ðêm ngồi vẽ bức chân dung dang dở
Tặng tình nhân vùng chăn gối chưa quen
Còn thao thức thương nhau mềm hơi thở
Sáng mai rồi người ấy lại không tên

Tường Vi
ntuongvi@yahoo.com


chân tình là những vô ngôn

(Giọng ngâm: Lý Bạch Huệ)

Buổi tối lang thang trong thương xá
Ta bỗng tìm ra một nỗi buồn
Hình như có gì vừa đánh mất
Bởi chân tình là những vô ngôn

Buổi sáng lan man bên khung cửa
Ly cà phê cũng thở khó buồn
Ta nghe rạn vỡ trầm nỗi nhớ
Bỏ mặt trời, quên cả hoàng hôn

Buổi trưa viết xong câu từ tạ
Bài thơ buông dấu chấm hững hờ
Ôi thương những lời tình chưa ngỏ
Ðể bây giờ còn lại bơ vơ ...

Buổi chiều lên xe về cuối phố
Cõi riêng ta và những tận cùng
Mai xa lắc giữa đời thương nhớ
Gọi ân tình về giữa bao dung ...

Tường Vi
ntuongvi@yahoo.com


gặp lại bạn cũ

Hăm mấy năm rồi gặp lại nhau ?
Tình bạn năm xưa có phai mầu ?
Ngày nào cắp sách chăm đi học,
Tháng cũ đến trường, mặc ốm đau
Lưu bút viết nhau dòng kỷ niệm,
Ngày đêm đối thoại hợp tâm đầu
Thời gian vụt mất cơn gió thoảng,
Hăm mấy năm sau có gặp nhau ?

Nguyễn Tài Ngọc
(Phu quân của Regina Pacisienne Phan Cẩm Loan)
taingoc1@hotmail.com


tâm sự đời tôi

Ai cứ bảo lấy vợ về là sướng ?
Lấy vợ về khổ lắm các anh ơi.
Cuộc đời mình đang phong túng thảnh thơi,
Ðùng một cái giam thân trong cũi sắt !

Tôi có vợ, nhưng vẫn còn thắc mắc,
Sao đàn ông đầu óc để nơi mô ?
Bao nhiêu người chân nối gót bước vô,
Vòng tử địa, không đường ra lối thoát.

Chắc tại mấy cô nói năng lưu loát,
Hay tại vì dáng yểu điệu thướt tha ?
Hay tại vì cái ghê gớm vòng số ba ?
Làm trí óc chúng ta không minh mẫn ?

Ôi xui thay, vì vài giây khờ lẫn,
Mà đời ta giam chặt cả thiên thu.
Ðem sánh so với cuộc sống trong tù,
Sự khác biệt không sai nhau là mấy.

Ở trong tù, tự do đâu chẳng thấy.
Bao tháng năm đối diện bốn bức tường.
Lấy vợ về, dù vợ nói vợ thương,
Muốn đi đâu phải bà cho giấy phép.

Ở trong tù, tù nhân không được hét.
Thưa với cai tù, phải nói "Yes, sir."
Lấy vợ về, dù gặp vợ trong giấc mơ,
Phải: "Bẩm, em có điều chi dậy bảo ?"

Ở trong tù, thức ăn luôn nhạt nhão,
Sáng, trưa, chiều, cơm nấu đáng cho trâu.
Lấy vợ về, vợ nấu dở đến đâu,
Phải câm lặng, nuốt vô không than vãn.

Ở trong tù, một phòng hai tấm phản,
Suốt đời tù, phòng ngủ phải hai người.
Lấy vợ về, nhà có rộng mấy muơi,
Vẫn phải ngủ với vợ cho đến chết.

Ở trong tù, tiền xem như là hết.
Nếu có làm, chỉ được trả mấy xu.
Lấy vợ về, check đưa vợ kiểm thu.
Chả bao giờ có một xu trong túi.

Ở trong tù, muốn ngủ bờ, ngủ bụi,
Chả ai rầy, ai quấy, chả ai la.
Lấy vợ về, tối buồn ngủ chết cha,
Vợ bắt tắm trước khi cho đi ngủ.

Ở trong tù, còn giấc mơ ấp ủ,
Sẽ có ngày được phóng thích thoát thân.
Lấy vợ về, như lãnh án chung thân,
Thế là hết, đời tàn trong ngõ hẹp.

Anh em ơi, tránh cái vòng kềm kẹp.
Có gặp nàng, xin ngoảnh mặt làm ngơ.
Nếu lỡ thương, hãy cố đợi gắng chờ,
Cho đến lúc mình gần chui xuống lỗ.

Nguyễn Tài Ngọc
(Phu quân của Regina Pacisienne Phan Cẩm Loan)
taingoc1@hotmail.com

(Anh TN đã ra mắt gia đình Regina Pacis trong ngày RP Họp Mặt 05/07/02 qua bài thơ trên 8-)))


25 years the fall of Saigon

So many years ago today
there was some celebration
of victory to some, and so
they cheered with their elation

So many years ago we watched
the frantic ones in tears
dramatic change had come, they knew
to escalate their fears.

So many years ago the ones
who fought, when ne'r a day
went by without a loss of life;
a heavy price to pay.

So many years ago we thought
of flags that covered friends
and that for which they gave their all
came to this empty end.

So many years ago and now
no fears ~ no celebration.
Just hope their sacrifice is known;
and that this IS a GRATEFUL nation.

Lucille J. Biscaglio
(April 2000)


cái thuở xa xưa ấy

Thương tặng các Thầy, các Cô và Regina Pacis

Cứ đến giờ Ðại Số là lòng tôi lo sợ hồi hộp. Vì vốn tôi đã dốt môn Ðại Số mà còn hay bị ông Thày Kim Anh chiếu tướng hoài. Mấy lần bị gọi lên bảng tay cầm cục phấn run lên cầm cập. Ông Thày Ngữ thỉnh thoảng còn nở trên môi nụ cười, chứ ông Thày Kim Anh thì hiếm khi lắm. Như Thày Dat dạy Việt Văn, tuy cũng ít cười nhưng Ông có giọng giảng bài ngọt ngào và đầm ấm lắm. Hồi đó tôi mê nhất là môn Việt Văn, chẳng giờ Việt Văn nào mà tôi không chăm chú ngồi nghe Thày Ðat giảng không sót một chữ. Có một lần Thày nói về một cái làng nhỏ ở ngoài Bắc nổi tiếng trồng loại cam ngon, Thày cất giọng cao giảng:

- Ðó là làng Bố ... Bố.

Cả lớp không ai nói tiếp như mọi lần hết. Tôi nhanh nhẩu trả lời:

- Bố cục.

Thày và cả lớp cùng phá lên cười, làm tôi quê dễ sợ. Thày nhìn tôi và giảng tiếp:

- Làng Bố Hạ

Còn Mme Nguyệt dạy môn Pháp Văn, gương mặt lúc nào cũng khó đăm đăm. Tiếng gọi: Nam Hải vừa dứt. Là tôi đã lấy hết sức bình sinh để đọc đoạn Pháp văn trong cuốn sách cua xào lăn." Ðến khi Mme bảo: ngừng là người tôi vã hết mồ hôi hột. Cô Kim Quy dạy môn Sử cũng hiền lành và dễ thương, gương mặt nhỏ với mái tóc tựa mái tóc của ca sĩ Phương Hoài Tâm. Mme Vân thì mang nét đẹp quý phái, lúc nào cũng chải chuốt chỉnh tề và tay xách bóp đầm như ngươi đi dự tiệc.

Không có năm nào trong thời gian trung học tôi biết buồn như hè 1970. Là năm học hết lớp đệ tứ, tôi phải rời trường Régina Pacis. Hầu như cả lớp đều không tha thiết chú ý bài vở gì hết. Kỳ thi cuối đã xong, cả lớp truyền nhau những cuốn lưu bút cho tất cả các Thày Cô và cả lớp để ghi lại ít hàng lưu niệm. Nhiều bạn còn thắm thiết gắn vào những tấm ảnh tặng cho nhau. Năm đó tôi được 16 tuổi, ngây thơ mà lại còn nhát nhúa lắm. Tôi chẳng biết nói gì với những bạn bè và cũng chẳng dám có một lời nói riêng để chia tay, cám ơn với các Thày Cô của tôi. Tôi, cứ một mình lặng lẽ đi một vài vòng chung quanh trường, qua phía bên nhà Nguyện, vào nhà thêu của các soeur, đi xuống tận nhà bếp rồi băng qua khu nội trú của các em bị liệt chân. Ðến cái văn phòng có Bà Tư già đeo kiềng và Cô ELizabeth tai lừa khó chịu. Tôi cứ cố nhìn như để nuốt hết vào lòng, để mai này dù có đến trường cũng không tìm lại một lúc có đủ những người này tại đây. Vì hết hè này là tôi phải lên mãi Ðà Lạt để học, rồi không biết bao giờ mới gặp lai.

Buổi tất niên cuối được vui vẻ cười đùa với nhau qua vài điệu múa, vở kịch mà ở lớp tự biên tự diễn. Các ông Thày bà Cô thì bị hết lớp này bắt cóc vô, rồi lại kéo qua lớp khác. Những ngày hôm đó thì thấy người nào cũng phải cười toe toét hết. Mỗi lớp tự trang hoàng một kiểu khác nhau, nào dán giấy màu hoa bông đủ thứ, bánh kẹo nước ngọt đầy bàn. Ôi! những hình ảnh đó luôn ghi khắc vào trong thâm tâm của tôi Một nỗi buồn khó tả từ đâu đến cộng với một sự tiếc nuối nhè nhẹ lan vào lòng. Và tôi đã thực sự chia tay những người Thày Cô từ ngày hôm đó. Những năm sau mỗi lần ở Ðà Lạt về tôi còn liên hệ với mấy nhỏ bạn thân. Sau lên Ðại Học, đứa lấy chồng, đứa đi du học dần dần mất hết cả liên lạc.

Chiều hôm đó, nhỏ Ngọc (Em con của Cậu tôi) đến chơi, trên tay nó cầm một mảnh giấy đưa cho tôi rồi nói:

- Chị Hải nè, hồi đó phải chị học ở trường này không ?

Tôi cầm tờ giấy ngạc nhiên hỏi:

- Cái gì ở đâu Ngọc có vậy ?

- Thì thấy ở nhà, chắc Anh Sơn đem về

Một tờ giấy được xé ra ở tờ báo Sống Mới. Và tôi đã liên lạc, tìm lại được thày Kim Anh đầu tiên, Mme Nguyệt, Mme Vân. Nhìn thấy những tấm ảnh của thưở xa xưa, nghe được âm điệu của tên trường trong tiếng nhạc. Lòng tôi bồi hồi xúc động lạ lùng. Ðêm hôm đó tôi thao thức mãi không sao ngủ được, những hình ảnh những kỷ niệm đó đã thực sự sống lại và cứ như một cuốn phim quay lại từng đoạn trong trí óc tôi. Và tôi thầm ước ao tìm lại được hết tất cả các Thày Cô và tất cả những người bạn của tôi. Biết đâu cũng ở gần đâu đây mà tôi chưa đươcc tìm gặp.

Nam Hải
(April 15, 2002)
Namhaing@aol.com


Gấm

Kính tặng mẹ và các Thầy Cô cùng Regina Pacis nhân ngày Lễ Mẹ

Gấm được sanh ra và lớn lên tại làng Ngọc-Ðồng thuộc tỉnh Thái Bình tại miền Bắc VN. Ông Bà Bình chỉ có Gấm là con gái lớn và cậu con trai út tên Khâm. Ông Bình đã mất từ lúc chị em Gấm còn nhỏ, Bà Bình đã một lòng thờ chồng tần tảo nuôi hai con. Theo tục lệ ở ngoài Bắc, năm 16 tuổi Gấm đã được Bà Bình chọn chồng do người mai mối đến. Tuy chỉ một lần được gặp mặt, chưa tìm hiểu gì về nhau hết. Nhưng Gấm đã vui vẻ nghe lời mẹ để có một đám cưới thật đơn giản về nhà chồng. Sách là một thanh niên còn đang theo học ở trên Hà Nộị Bước chân về nhà chồng Gấm phải theo quy củ của gia đình bên chồng. Mặc dù Bố Mẹ chồng đã mất hết, nhưng còn phải sống chung với mấy bà chị của Sách. Cả gia đình chỉ trông vào mấy mẫu lúa ở ngoài ruộng sống qua ngày thôi Hàng ngày mỗi người phải ra ruộng cày cấy, chiều tối mới về nhà nghỉ ngơị Gấm đã phải chịu thương chịu khó làm việc hết ngoài đồng đến về nhà để cho mấy bà chị chồng vui Mỗi tháng vợ chồng mới cưới cũng chỉ gặp nhau có vài ngày rồi Sách lại trở lên Hà Nội học.

Thời gian thấm thoát trôi qua, Gấm đã sanh được một đứa bé gái và hai thằng con traị Sách thì theo học nghề Ðông-Y nên chưa có kiếm ra tiền bạc để lo vợ con. Ruộng lúa trong gia đình cứ làm chung với nhau và mỗi mùa thì mấy bà chị Sách lại chia ra cho hai vợ chồng để nuôi con. Cuộc sống thật là vất vả và phải thật là tằn tiện mới đủ cho chồng ăn học và chăm lo các con.

Mỗi lần đưa con về thăm Bà Bình, Gấm không bao giờ dám kể sự thật những khổ cực sống bên nhà chồng. Bà Bình hỏi cái gì Gấm cũng nói tốt nói vui. cho Bà được an tâm. Vì Bà Bình cũng đang buồn rầu vì cậu Khâm em trai của Gấm đã lén Bà trốn vô miền Nam VN. Năm Gấm sanh được thêm một đứa con gái nữa, thì Bà Bình đã sanh bịnh và qua đời Ngày đưa xác Bà Bình đi chôn, Gấm đã kêu gào khóc lóc than thở cho thân phận còn lại một mình côi cút. Nhưng rồi về lại nhà chồng công việc đồng áng lẫn ngày đêm lo cho lũ con, nên Gấm cũng chẳng còn thì giờ ở không mà buồn mà nhớ đến Mẹ và Em nữa. Có công mài sắt, có ngày nên kim. Cái ngày mà Sách lấy được cái bằng Ðông-Y ở Hà-Nội về, Gấm vừa mừng vừa tủi vì từ nay không còn phải xa chồng nữa. Dù sao con cái cũng phải cần có một người cha ở gần gũi dậy dỗ và đỡ đần cho Gấm. Nhưng Gấm vẫn chưa đoạt được cái ước nguyện đó, vì Sách cứ nghe theo bạn bè đi đến những nơi có cô đầu hát xướng và đôi khi còn đi cờ bạc nữa. Gấm chỉ biết chảy những hàng nước mắt khóc cho thân phận của mình. Chẳng dám than trách với Sách một lời nàọ Chỉ biết hàng ngày cứ lo việc ngoài việc trong cho con cái để quên đi những gì đang xảy ra với cái số phận của mình.

Mấy nam sau, Gấm lại sanh thêm ba thằng con trai nữa. Thằng Út được hơn một tuổi thì hiệp- định Geneve được ký kết năm 1954. Sách đưa Gấm và các con xuống tàu Há Mồm để di cư vào miền Nam VN. Vào Nam Gấm đã dược gặp lại thằng em trai sau mấy chục năm xa cách. Hai vợ chồng trước khi vào Nam đã bán hết đất đai nhà ruộng lúa được một ít tiền để thủ thân. Lâm vào cảnh không nhà không cửa một vợ với tám đứa con. Và trời thương Sách đã thay đổi tính nết, biết chịu thương chịu khó lo phát triển cái nghề Ðông-Y-Sĩ của mình. Thoạt đầu phải đi thuê nhà ở sau dần dần Sách đã mua được căn phố trệt cũ kỹ nhưng nhờ ở mặt đường và mở ra một cửa hiệu bán thuốc Bắc. Rồi từ đó cuộc sống bắt đầu khấm khá lên. Gấm đã thầm cám ơn Trời Ðất và Gấm trở thành một cánh tay phải của Sách. Trên nhà thì Sách coi mạch hốt thuốc, nhà dưới Gấm lo làm những loại thuốc, nào nấu, nào sao, nào tán, nào hối thúc các con viên ra từng viên thuốc để Sách bán cho những bệnh nhân. Sau này ngày càng đắt hàng, Gấm phải thuê thêm người làm để phụ vào việc cơm nước giặt giũ cho các con.

Ngày tháng trôi qua con cái ăn học đến nơi đến chốn và đã đến lúc trưởng thành để lấy vợ lấy chồng. Gấm đã thầm vui mừng trong lòng và quên hẳn những năm chưa cực khổ gian nan ở ngoài Bắc. Gấm chẳng có gì vui và sung sướng bằng mỗi năm cứ đến ngày Tết là cả đại gia đình sum họp quây quần bên nhau, con trai con gái con dâu con rể cháu ngoại nội dẫn đầy một nhà để mừng xuân mới. Nhưng rồi năm 1975, Việt Cộng đã chiếm luôn miền Nam VN. Cũng như mọi gia đình khác, các con trai của Gấm phải chia tay Bố Mẹ và vợ con đi vào các nơi cải tạo mà không biết ngày về. Cuộc sống đã bị bao nhiêu sợ hãi lẫn chuyện làm ăn ngày càng sa sút. Nhìn thấy Sách chịu đựng đau khổ mà cứ để trong lòng. Những ngày tháng đó Sách rất là ít nói, chỉ ngồi trầm ngâm bên cái ống điếu và tách trà. Hai vợ chồng đã không còn những bữa cơm sum họp vui vẻ nữa. Khi các con đã dược khoẻ mạnh nhờ những giỏ đồ gởi vào thăm nuôi đều đặn mỗi tháng gởi vào trại cải tạo. Cũng may mắn là đều được trở về hết, thì lại đến cái lo âu của những chuyến vượt biên cho các con. Gấm không thể ngờ là trong cuộc đời lại phải có những giây phút cho con ra biển cả mà không có cái gì bảo toàn sanh mạng. Gấm đã bị bệnh đau hai con mắt vì phải khóc ngày đêm vừa lo sợ vừa thương nhớ con.

Nhưng phúc đức, các con đã được bình an và từ từ đã vào được nước Mỹ. Thì lúc đó tiền bạc của hai vợ chồng đã không còn gì nữa. Và hai vợ chồng đã đồng ý cho người con trai lớn làm giấy tờ bảo lãnh qua Mỹ. Chỉ còn vài tháng nừa là đến ngày lên máy bay thì Sách đã bị cơn bạo bệnh mà chết. Giờ phút đó Gấm đã không còn nước mắt để mà khóc chồng nữa, Gấm cứ lặng người đi và mặc cho ai muốn làm gì thì làm. Khi đã mất đi người chồng đã sống chung trên 50 năm, Gấm cảm thấy bị hụt hẫng và chính vì thế Gấm lại càng mong cho mau đến ngày rời VN để qua gần gũi với các con của mình.

Sang đến Mỹ, Gấm sống với vợ chồng đứa con trai lớn. Nhưng khung cảnh và sinh hoat thật xa lạ với Gấm, rồi những đứa cháu cứ mở miệng ra tiếng Mỹ. Gấm đã cả một đời làm việc bằng hai bàn tay của mình quen rồi mà các con lại không muốn cho mẹ làm cái gì trong nhà hết. Gấm đã thật là buồn cho thân phận, bao nhiêu cái tưởng tượng lúc còn ở VN đã không phải là sự thật. Ba năm sau, Gấm đã quyết định nhờ người con trai xin được căn nhà housing và cũng may Gấm còn một cô con gái lớn không chịu lập gia đình, nên hai mẹ con dọn về sống với nhau. Ngày ngày Gấm được xách cái chổi ra sân quét nhà mình rồi quét luôn cho hàng xóm, thấy có mảnh đất trống sau nhà Gấm bắt đầu nhờ các cháu mua cho ít hột giống Gấm trồng đủ các loại rau. Tình cờ hôm đó Ông chủ dạt ghé ngang thấy Gấm trồng tỉa sạch sẽ nên đã quyết định cho Gấm mảnh vườn đó để trồng cây. Gấm rất là siêng năng, suốt ngày dù thời tiết như thế nào Gấm cũng chăm sóc cho mảnh vườn của mình được tươi tốt. Khi có được nhiều rau, thì lại gọi phone cho con cháu đến hái. Cứ sáng trưa chiều tối Gấm hết bón phân, rồi trồng, rồi tỉa, Gấm thương yêu mảnh vườn đó không khác gì bổn phận đối với người chồng của mình. Và Gấm đã quên đi tất cả những ngày tháng đã qua. Ðôi lúc các con có ý định mời Gấm trở về VN, nhưng Gấm chỉ cười và lắc đầu:

- Thôi, về làm gì ! còn ai đâu mà về!

Gấm lại còn cái thú nghe tin tức phát thanh trên radio không sót một chương trình nào, về quảng cáo về chính trị Gấm rất thấu hiểu. Con cháu sắm sửa quần này áo nọ cho Gấm nhưng Gấm chỉ nhất nhất là cái quần đen và chiếc áo bà ba thôi. Các con cháu đưa Gấm đi bất cứ đâu nhưng đến chiều là Gấm nhất định phải về để lo cho cái mảnh vườn yêu quý của Gấm. Có một lần Gấm tâm sự với cô Em họ ở VN du lịch qua chơi:

- Cô à, tôi đã nhận nước Mỹ làm quê hương thứ hai rồi, tôi chỉ trở về VN khi cộng sản không còn trên đất nước VN nữa. Ðã chạy trốn nó từ Bắc vào Nam, từ Nam đến Mỹ. Năm nay tôi đã 88 tuổi còn sống thì tôi cứ chờ đó xem ngày nào nó chết.

Nam Hải
(May 10, 2002)
Namhaing@aol.com


Một Người Cha

Kỷ Niệm ngày giỗ bố, Nam Hải xin dâng tặng hương hồn bố và Kính Tặng Mẹ, các Anh Chị cùng các cháu
Kính Tặng các Thầy Cô, cùng các bạn Regina Pacis.  Chân thành cảm tạ Thầy Cô Kim Anh và các chị các em đã có lòng đi dự lễ cầu nguyện cho bố của Nam Hải. Cũng xin cám ơn các Thày Cô và các bạn ở xa đã dâng lời cầu  nguyện cho bố của Nam Hải. Nam Hải xin mang ơn.

Ðây là một câu truyện hoàn toàn có sự thật, Nam Hải xin kể lại và thương tặng tất cả các Soeur, các Thày Cô cùng các bạn Regina Pacis. Dù cho không hay, cũng mong các Thày Cô và toàn thể gia đình Regina vui lòng nhận lòng chân tình của Nam Hải đến với mọi người. Xin Cám Ơn.

Người ta nhìn thấy người đàn ông đó khoảng 40 tuổi, cao ốm gương mặt dài đang lấy hết sức để đội một thùng nước. Ông nhẹ nhàng từ từ đi xuống tàu lên đến chỗ cho người vợ và 7 đứa con đang nằm ngồi chen chúc ở một góc tàu. Ông nhè nhẹ đặt thùng nước xuống và thở phào nhẹ nhõm. Ðó là chuyến tàu Há Mồm cho người di cư vào miền Nam Việt Nam. Chị người làm chừng 20 tuổi cũng theo gia đình Ông, chị đang lo cho mấy cô con gái của Ông, có lẽ vì không quen đi xe tàu nên mặt mày tái mét nằm co quắp lại với nhau. Mấy cậu con trai khoảng trên 10 tuổi thì ngồi yên dương đôi mắt tròn xoe nhìn những người chung quanh. Ông ngồi xuống cạnh bà vợ đầu vấn khăn tròn và đội chiếc khăn mỏ quạ đang bế cậu con 2 tuổi. Hai ông bà chỉ nhìn nhau rồi hỏi han con cái trong dáng điệu và tâm trạng thật là lo lắng. Ông chỉ biết đưa vợ con đi lánh cộng sản, và trong trí óc Ông nghĩ: tương lai sẽ ra sao ? Gia đình Ông cũng như mọi người được đưa vào Trại Phú Thọ, được ở trong một cái lều. Vài ngày sau vợ Ông phải bế cậu con trai nhỏ vào nhà thương để chữa bệnh đậu mùătrái rạ). Còn lại mấy cha con ở lại, hàng ngày cứ lần lượt sắp hàng đi lãnh cơm, nước về ăn. Và chờ ???

Ông không biết sẽ chờ ai ! và Ông phải làm gì đây ? Cứ mỗi khi chiều xuống đêm về, các con Ông và chị người làm đã say giấc thì Ông lại bắt đầu cầu nguyện xin Chúa, Ðức Mẹ Maria và Ông Thánh Giuse là quan Thày của Ông phù hộ dẫn dắt đường cho gia đình Ông.

Rồi một buổi sáng hôm ấy, một người đàn ông khoảng trên 30 tuổi tướng người to thô, da đen sậm, có hàm răng vàng được một người nhân viên ở trại cầm giấy tờ đưa đến. Ông vui mừng và ngạc nhiên lắm. Vì đó là người em ruột của vợ Ông đã trốn vô miền Nam từ năm 1945.

Thế là Cha con Ông thu dọn hết mấy cái bị vải đựng áo quần để bước ra cổng trại Phú Thọ. Người em vợ thuê một chiếc xe xích lô máy để đưa cha con Ông đi. Em vợ Ông đã xin cho gia đình Ông được ở nhờ trong 1 cái kho của Hãng làm giầy bata của một ông chủ người Pháp. Ở được vài ngày thì vợ chồng Ông thì thầm thú thật với người em vợ là trươc khi đi có bán được một số tiền để nhờ người em vợ đi thuê cho gia đình Ông một căn nhà giá rẻ.

Một căn nhà làm bằng sàn gỗ cũ kỹ nằm bên ven cầu Kiệu đường Yên Ðỗ, vuông vắn 10 thước nhưng nhờ có cái gác gỗ nên gia đình ông cũng cảm thấy thoải mái, ông yên tâm được phần nào vì dù sao vợ con ông cũng có chỗ ăn chỗ ở. Hàng ngày ông ít có ở nhà, cứ đi hết chỗ này chỗ kia với người em vợ để tìm họ hàng và người làng ở quê Hưng Yên của Ông. Nhờ ông có nghề coi mạch bốc thuốc Nam, ngoài Bắc người ta gọi ông là Thày Lang. Và nhờ đó ông đã đến những nơi có người di cư để coi mạch và ghi toa thuốc. Ngày ngày nhờ vậy nên ông đã có cách cho vợ con sinh sống và trả tiền thuê nhà. Nhưng nỗi lo của ông cũng không thể có được, và ông cứ cầu nguyện tiếp tục.

Thời gian trôi qua, vợ chồng ông cố tiện tặn dành dụm nên đã mua được một căn nhà ngói cũ xưa nhưng ở mặt phố Hai Bà Trưng. Và thêm một cô con gái ra đời. Công việc của ông ngày càng phát triển, nhưng ông vẫn giữ lề lối của các Cụ từ cách ăn mặc áo quần ông cũng vẫn quần áo ta, ra ngoài thì khoác thêm chiếc áo dài vải the đen với cái khăn xếp đội trên đầu. Ông rất là gắt gao với các con, nghiêm nghị nề nếp từng li từng tí.

Ðến tuổi già gần 80, các con cũng có gia đình hết. Nhưng ông vẫn theo cái nghề Thày Lang mãi.

1975 Việt cộng về Sàigòn, nhà ông 1 người con trai đa đi du học từ 72 còn 3 người đều đi học tập cải tạo không có ngày trở về. Những ngày tháng ấy ông sống như người mất hồn, suốt ngày đêm sợ hãi lo âu, cứ thấy bóng của mấy anh công an thấp thoáng ở cửa nhà ông là ông chỉ sợ tai hoạ lại đến. Tóc ông không mấy chốc mà đã bạc trắng cả đầu.

Rồi ông cũng chỉ biết đọc kinh cầu nguyện kiên nhẫn mãi. Kết quả từng người con đã trở về bên Ông. Rồi cũng như mọi người, gia đình Ông bắt đầu đi vượt biên. Những khủng hoảng đó Ông tưởng chừng như không sống nổi, nhưng ông vẫn vững lòng cầu xin Chúa.

Ðến năm 1988, con trai ông đã gởi đầy đủ giấy tờ cho vợ chồng ông để đi diện đoàn tụ. Ông chỉ ray rứt vì còn cô con gái út đã đi vượt biên nhiều lần không được nên nhà nước việt cộng đã xóa tên trong hộ khẩu. Vì thế cô ấy không có được đi chính thức với vợ chồng ông. Sau cùng ông cũng thu xếp cho cô con gái đi thêm lần nữa, cô ta rời VN ngày 2 tháng 4. Những lần trước chỉ hơn tuần là đã nghe tin bị bắt ở tù hoặc trở về nhà vì bị gạt. Nhưng lần này chờ mãi ông chẳng thấy tin tức gì hết. Ông đã lo lắng mất ăn mất ngủ nhưng ông cũng không quên cầu nguyện ngày đêm.

Và ngày 24 tháng 4 sau một trận bị đau bụng ông đã từ trần. Ðến ngày 26 tháng 4 thì cô con gái của ông đã bị một trận bão lớn đánh tạt vào Thái Lan.

Nam Hải
(Apr. 27, 2002)
Namhaing@aol.com


Ngoại Tôi

(thương tặng Bội Khanh và Regina Pacis)

Suốt cuộc đời thơ ấu, tôi được gần gũi Ngoại hơn Ba Má của tôi. Hồi đó, ba anh em tôi khoảng trên dưới 10 tuổi. Hàng ngày, sau khi ở trường học về tôi chỉ quanh quẩn ở nhà với Ngoại và theo hai anh nghịch ngợm ghê lắm. Cứ buổi trưa là tụi tôi trốn Ngoại chạy rượt đuổi nhau xung quanh vườn. Vườn Ngoại tôi không thiếu một thứ trái cây nào, tụi tôi leo lên cây mận cây xoài qua cây ổi cây cóc tới cây trứng cá. Trong tay đứa nào cũng có một ít muối ớt rồi ngồi ở trển ăn cho đã đời. La hét um sùm làm Ngoại tôi không ngủ trưa được, Ngoại xách cái roi mây ra hăm đuổi hết vô nhà và còn dọa sẽ mét Ba tôi. Nhưng không bao giờ Ngoại mét thiệt hết.

Cả ngày Ngoại tôi chẳng có lúc nào mà ở không hết, Ngoại nuôi heo gà vịt , lo ngoài vườn rồi còn cơm nước giặt giũ tắm rửa cho anh em tôi nữa. Mỗi ngày tôi chỉ mong tới sau bữa cơm chiều Ngoại tôi dọn dẹp xong xuôi hết là mấy Bà cháu xúm lại quây quần trên chiếc phản gỗ cũ xưa bóng láng của Ngoại. Lúc đó Ngoại vừa bỏm bẻm nhai trầu vừa kể cho anh em tôi nghe những mẩu chuyện Ngoại và Má tôi hồi nhỏ, chuyện thời xa xưa đó nghe thiệt là lạ tai và mắc cười lắm. Ngoại còn có tài nấu ăn và làm bánh, những món ăn tuy quê mùa nhưng rất là ngon. Tôi mê nhứt là đi học về được ăn cơm với canh chua cá lóc, tôm rang cháy thiệt đậm đà và hấp dẫn. Tới ngày chúa nhật là tôi được Ngoại đổ bánh khọt bánh xèo bánh bò bánh khoai mì thơm mùi lá dứa, chè đậu chè khoai môn nếp ngọt lịm béo ngậy với nước cốt dừa. Nhứt là những ngày gần Tết, tôi còn nhớ mãi: Ngoại gói bánh tét nhân đậu thịt heo, nhân chuối. Ngoại ngồi trên cái chõng tre ở dưới nhà bếp, được bày ra thiệt là nhiều nếp chuối thịt đậu lá chuối, Ngoại dạy cho tôi lau từng tàu lá chuối tươi xanh biếc. Bàn tay Ngoại thiệt là khéo léo gói từng cái bánh chặt chẽ với những sợi dây lạt đều đặn gọn gàng và đẹp mắt. Vừa gói Ngoại thường hay nhắc tới Ông Bà Cố Ông Ngoại hồi xưa thế này thế kia. Ðêm giao thừa Ngoại lo cúng kiến Trời Phật Ông Bà Tổ Tiên rất là chu đáo.

Năm đó tôi đã học hết lớp nhất là tôi phải theo Ba Má lên Sài Gòn để vô đệ thất. Mấy ngày cuối Ngoại đã lo sắp xếp đồ đạc áo quần cho tôi thiệt là chu đáo. Vì từ lúc sanh ra đến giờ tôi chưa một lần nào xa Ngoại, nên lần này Ngoại có vẻ buồn rầu lo lắng. Lúc nào cũng dặn dò tôi đủ thứ hết. Sáng hôm ấy, trời còn tờ mờ là tôi đã phải thức dậy sớm để đi với Ba ra bến xe về Sài Gòn. Ngoại cũng đi theo để tiễn chân tôi, ngồi trên xe đò rồi mà Ngoại cũng còn dặn dò cái này cái kia riết. Khi xe đò bắt đầu chuyển bánh, Ngoại nói với theo:

- Ði nghe con, nhớ nghe lời Ngoại dặn rồi ráng học nghe !

Tôi chỉ biết nói một tiếng:

- Dạ

Và nhìn lại thấy Ngoại đưa cái khăn đeo ở cổ lên chùi nước mắt. Lúc đó lòng tôi buồn se thắt lại và tiếng máy nổ của xe đò đã ru tôi vào giấc ngủ hồi nào tôi cũng không hay. Chỉ còn hơn 1 tuần lễ nữa là tới nghỉ hè tôi đếm từng ngày mong chờ từng phút để được về quê gặp Ngoại. Tôi thiệt là nhớ Ngoại, nhớ từng thứ trái cây trong vườn và nhứt là con lulu là con chó mà tôi cưng nhứt. Buổi chiều bữa đó, tôi đi học về thì thấy Ba tôi đã đứng sẵn ở cửa ra vào chờ tôi. Nhìn mặt ổng buồn hiu:

- Con à, sửa soạn về Ngoại liền đi con !

Tôi ngạc nhiên:

- Thiệt hả Ba ! Còn chưa nghỉ hè mà ?

- Ngoại mày đi rồi con ơi.

Tôi trơ đôi mắt tròn xoe:

- Trời đất !!!

Tôi vừa bù lu bù loa khóc vừa vô buồng quơ đại mấy cái áo quần cho vô giỏ. Cha con tôi vội vã ra đón xe để kịp chuyến cuối cùng. Ngồi trên xe Ba tôi kể lại Ngoại tôi chỉ bị trúng gió mà chết. Con đường chạy về quê sao mà xa quá, đi hoài không thấy đến. Tôi không thể ngủ được như lần trước lúc mới lên Sài Gòn mà đầu óc tôi cứ nghĩ miên man.

Bước chân tới đâu ngờ tôi đã thấy những người hàng xóm bu đến đầy sân nhà. Họ qua giúp cho Ba Má tôi khuân chuyển bàn ghế từ gian nhà ngoài ra sân. Một tấm vải trắng được phủ kín hết Ngoại tôi nằm trên cái giường, bên cạnh là cái hòm gỗ ghé nằm chờ sẵn. Mẹ tôi mở chiếc khăn đắp trên mặt Ngoại cho tôi nhìn Ngoại lần cuối. Trời ơi ! Ngoại tôi chết thiệt rồi sao ? Tôi bủn rủn tay chân quỵ xuống chân giường và khóc nức nở.

Sau khi chôn cất Ngoại xong, Ba Má và mấy anh em tôi trở về nhà. Nhìn lên bàn thờ chỉ còn tấm ảnh của Ngoại với khói hương nghi ngút. Tôi đã khóc đến đau cả cổ, sưng cả mắt mà nước mắt ở đâu nó cứ làm cho tôi khóc hoài. Bây giờ thì chỉ còn lại cái giỏ đựng trầu cau, cái ống đựng vôi, cái ống nhổ trầu của Ngoại. Tôi thương những thứ đó như thương cuộc đời của Ngoại. Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ Ngoại và thèm cái mùi hương trầu cau trên đôi môi đỏ tươi thơm phức của Ngoại. Và những hình ảnh của Ngoại đã in sâu trong tiềm thức của tôi.

Nam Hải
(June 2002)
Namhaing@aol.com



Mme Yvette Lan at reunion 2002

Kim Nga và Nam Hải (áo trắng)

cuộc hội ngộ sau 33 năm xa cách

(Viết Tặng Cho Ngô Thị Kim Nga Và riêng tặng cho Quý Thầy Cô Cùng tất cả các Reginapacisiennes)

Mụ Năm thở phào nhẹ nhõm vì trong tay đã cầm được cái vé máy bay, phải như thế Mụ mới chắc ăn và yên-tâm là Mụ sẽ được qua Tây. Trong lòng Mụ một nỗi vui mừng hớn hở khó tả, vì Mụ chẳng bao giờ nghĩ rằng: trong cuộc đời của Mụ sẽ có ngày Mụ được qua một nước Âu-Châu mà lại được gặp một người bạn đã học chung một lớp với nhau từ lớp đệ thất cho tới đệ tứ tại trường Régina Pacis. Rồi mọi người đi một trường khác và thời-cuộc biến chuyển nên cả 2 đã không liên-lạc với nhau mà chính người bạn đó đã từng giúp đỡ cho Mụ cóp-pi môn Toán là môn mà Mụ dốt nhứt. Nỗi vui thích này làm cho Mụ nôn-nao ngày đêm mong đợi gặp Ngô Thị Kim-Nga. Ðã nhiều lần Mụ Năm đã liên-lạc bằng điện-thoại với Nga, nghe Nga vẫn còn ở một mình chưa lập gia-đình Mụ Năm lại càng mong mau mau có ngày hội-ngộ. Mụ chưa được thi vào quốc-tịch nên trên văn-phòng vé máy bay họ đã báo cho biết cả Mụ và Nga phải làm sao cho có đầy đủ các hồ-sơ mà họ đòi hỏi. Nhưng rốt cuộc cả hai đều lo xong những thủ-tục đó.

Mụ Năm tủm tỉm cười rồi gác điện-thoại vào cái hộp. Con nhỏ Nga nó chưa hiểu gì về cuộc đời của Mụ hết, trong trí nó tưởng-tượng chắc là Mụ Thày Bói kiêu sa sống trên nhung lụa nên nó đã lo lắng mắt ăn mất ngủ về việc Mụ xuất-hiện ở cái xứ Tây Tạng. Nó sợ Mụ không chịu ngủ chung giường, phải như thế này như thế kia trong đời-sống hàng ngày. May quá, hồi nãy qua cuộc điện-đàm nó đã thốt ra cho Mụ biết và thoạt vừa nghe xong những nỗi lo lắng của Nga Mụ đã hả họng xổ ra một tràng cười thật to, rồi Mụ đã trình-bày hết cho Nga khỏi phải suy-nghĩ âu lo. Mụ chưa gặp lại Nga, nhưng Mụ đã cảm thấy thương hiểu và cảm-thông cho nó. Mụ thầm đoán Nga đang sống một cuộc-sống thật đơn-giản và vẫn cái tính cẩn-thận kỹ-lưỡng, hiền lành ngày xưa vẫn còn trong nó. Mụ vẫn còn nhớ những giờ làm bài-kiểm của ông Thày Kim-Anh, ông Thày Ngữ, Mụ ngồi đàng sau lưng cứ cầm cái thước kẻ khều khều lưng của Nga và Nga lại giả bộ lấy tay bóp bóp trên vầng trán làm như đang suy-nghĩ rồi đưa cả trang giấy học-trò cho Mụ viết cọp pi thật nhanh. Mụ vẫn in trong trí-óc như mới ngày hôm qua đây ! Mà thực sự đã là 33 năm trôi qua rồi.

Mụ Năm và Nga chỉ nhìn qua những hình-ảnh gửi cho nhau thôi nên Mụ rất là lo khi bước xuống phi-trường sợ không nhìn được nhau vì chính bản-thân Mụ đã chụp hình ăn ảnh hơn ở ngoài. Chỉ có bấy nhiêu mà Mụ Năm cứ dặn đi dặn lại Nga mãi. Chỉ còn một ngày nữa là chiều mai Mụ Năm đã đến ngày ra phi-trường để qua Pháp. Mụ cảm thấy hồi-hộp, vui vui kỳ lạ. Nghĩ và nhớ lại những năm tháng cách đây chưa đầy 3 năm, Mụ còn đang chui rúc trong một căn phòng chật hẹp nóng bức ồn-ào, trong túi Mụ chẳng có được vài chục ngàn tiền VN. Thời-gian trôi qua cũng chỉ vừa mới đây, mà bây giờ Mụ lại đang chuẩn-bị va-li nào áo quần, nào quà cáp để sang một nước khác rồi lại được gặp một con nhỏ bạn biết nhau từ thưở còn cắp sách. Mụ bồn-chồn trong người, ăn ngủ chẳng đúng giờ giấc, mau cho mau chóng đến giờ gặp mặt xem Nga bây giờ như thế nào ? Cái điều thích thú mà Mụ nhận thấy cả hai đều có là chẳng đứa nào có gia-đình cả, nên không vướng bận chồng con và mùa này là tháng hè bên Pháp nên Nga lại có thời-gian để cho hai con bạn già gặp gỡ nhau thoải mái.

Chuyến máy bay đi Pháp khác hẳn với những chuyến Mụ thường đi VN và vài nước Á-Châu. Mụ nhìn qua lại những người đi cùng chuyến với Mụ toàn là mũi lõ mắt xanh, chẳng thấy một bóng dáng nào là người Tàu hay Việt-Nam. Từ lúc ngồi ở phòng chờ đợi cho đến giờ lên máy bay, bên trái bên phải trước mặt sau lưng đều là ông Tây bà Ðầm. Cũng may mắn Cô nhân-viên sắp chỗ đã cho Mụ ngồi hàng đầu ghế nên Mụ cũng thoải mái hơn là ngồi chính giữa hai ông Tây. Mụ biết là Mụ phải ngồi 10 tiếng đồng hồ là đến Pháp, Mụ cũng lo sợ người chung quanh mà hỏi chuyện Mụ thì Mụ chẳng hiểu gì hết nên Mụ đã đem theo bên mình một cái máy để nghe những bản nhạc VN. Mụ ngồi dựa lưng vào ghế, mắt lim dim nghe nhạc và Mụ cũng chờ đợi xem có một cô chiêu đãi-viên nào đi ngang Mụ sẽ đưa mảnh giấy mà lúc ở nhà Mụ đã nhờ con nhỏ Em họ viết hộ cho mấy cái giữ sẵn trong túi áo của Mụ. Một cái là: Mụ muốn xin một bộ bài để làm kỷ-niệm, vì mỗi một hãng máy bay đều có một loại bài Tây khác nhau. Còn một cái khác là: thịt bò và loại nước Mụ ưa thích, mảnh giấy này để đưa ra lúc bữa ăn. Tiếng ngoại-ngữ mặc dù Mụ chẳng biết gì cả nhưng nhờ Mụ cũng thường-xuyên lên xuống máy bay, nhờ vậy Mụ cũng tự xoay sở và tự tìm cách cho mình để không bị ngơ ngác và lạc lõng.

Mụ cảm thấy trên cái máy bay này có vẻ lạnh hơn nhiều so với các chuyến bay khác Mụ đã từng đi, Mụ vội nhìn chung quanh để tìm một người chiêu đãi-viên từ đàng trước đang tiến tới, Mụ chỉ vào cái mền rồi tay kia Mụ đưa ngón tay lên để ra dấu muốn thêm một cái nữa. Và cô chiêu đãi-viên nhoẻn miệng cười và nói:

- qui qui.

Mụ cũng lịch-sự đáp:

- Mec-xi bo-cu.

Nhờ có 2 cái mền nên Mụ Năm co chân lên ghế ngủ một giấc ngon lành, khi chợt tỉnh Mụ nhìn bên cạnh sao không còn thấy cái ông Tây ngồi kế bên nữa, Mụ nhìn ra phía sau thấy ông ấy đang ngồi dưới đất cạnh bên mặt sau của nhà vệ-sinh đang loay hoay ở chiếc máy vi-tính xách tay. Ông ta bất chợt nhìn thấy Mụ và lại ra dấu cho Mụ là nằm xuống ngủ đi. Thế là Mụ yên tâm kê đầu vào một bên chiếc ghế và đôi chân Mụ duỗi ra được thoải mái hơn. Mụ lại làm một giấc cho tới giờ ăn của chuyến bay, mùi pho-mát trong miếng bánh mì bốc ra làm Mụ thật là khó chịu. Mụ nhanh nhẹn ra dấu cho cô chiêu đãi-viên hiểu là Mụ muốn bánh không có nhân. Thế là Cô ta cho Mụ 2 cái bánh, Mụ mở giỏ lấy ra gói thịt chà-bông mà Mụ đã lo đem theo từ ở nhà. Mụ ăn hết cả 2 cái một cách ngon lành uống cạn ly nước trái cây. Mụ đứng lên bước vào nhà vệ-sinh, khi bước ra Mụ cũng nhìn ông Tây đã nhường chỗ, Mụ mỉm cười với ông tỏ vẻ cám ơn ông và Mụ lại nằm xuống yên-tâm ngủ tiếp.

Mụ lại được ăn một bữa nữa, rồi Mụ mở cái tivi nhỏ ngay trước mặt để theo dõi đã tới đâu ? Mụ thấy trên bản-đồ có mũi tên chỉ đến Pháp rất là gần, nên Mụ vội lôi trong giỏ ra một bộ đồ màu đen để chuẩn-bị thay ra vì Mụ đã hẹn với Nga là Mụ sẽ mặc đồ màu đen cho dễ nhận ra Mụ. Và Mụ bắt đầu hồi-hộp tưởng tượng Nga cũng đang có mặt tại phi-trường để đón Mụ.

Vừa bước ra khỏi máy bay, Mụ thật là khó chịu ở cái thời-tiết rất là nóng nực ập vào người. Phi-trường ở Pháp lạ lùng đối với Mụ quá, cũng là cầu thang trải dài bằng máy kéo Mụ đi, nhưng không kéo trên đường thẳng dưới sàn, mà đưa Mụ tuốt lên cao rồi xuống dốc. Mụ cố đứng thật vững không khéo thì ngã lăn quay trở xuống. Tới nơi, chờ đợi sắp hàng để vào chỗ lấy hàng, người Tây thật là đông đảo và cái mùi ở người Tây xông ra nghe khó chịu cái lỗ mũi. Mụ vội vàng nhìn quanh quẩn tìm cho mình một cái xe rồi vội trở về nơi hàng hoá chạy ra từ trong cái hang, may quá va li của Mụ vừa chạy đến và người đàn ông mắt xanh mũi lõ đã giúp cho Mụ một tay khiêng cái va li của Mụ lên xe. Mụ nhìn ông ta cười và cám ơn ông ta bằng tiếng Pháp.

Vừa đẩy chiếc xe ra khỏi cánh cửa cái, Mụ nhìn quanh nhưng chẳng thấy Nga đâu cả, tim Mụ đập mạnh vì hồi hộp quá. Nhưng! Kim-Nga đã không đúng lời hứa hẹn với Mụ vì Nga mặc một cái quần tây và chiếc áo sơ-mi màu hồng. Nó cười toe toét và đỡ lấy chiếc xe đẩy thẳng ra chỗ người bạn là một ông Tây trạc 50 tuổi. Mụ khẽ gật đầu chào ông và ông Tây thì thật lịch-sự và tự nhiên đưa tay ra để bắt tay với Mụ. Nga giới-thiệu cho Mụ biết là ông ta sẽ cho 2 đứa quá giang xe sang nước Ý vào những ngày sắp tới.

Mụ Năm và Kim-Nga gặp nhau chỉ biết toét miệng ra cười và cả hai đứa đều cùng nói một câu tương tự: vẫn như ngày xưa không có gì thay đổi. Rồi Mụ không quên lấy máy chụp hình để có hình làm kỷ-niệm. Hình như Mụ và Nga chưa biết nói với nhau điều gì, cứ nhìn nhau rồi cười cười thôi. Ông Tây bạn của Nga đưa Mụ và Nga về tới toà-nhà cao tầng xây theo lối kiến-trúc thật xưa. Ðó là một chung-cư cao tầng mà Nga và Chị của Nga đang sống ở đó. Mụ ngạc-nhiên và buồn cười nhất là cái cầu thang máy vừa nhỏ, có màu đen thui, chung quanh toàn là những sợi dây để di- chuyển máy. Khi bước vào Mụ và Nga cùng 2 cái vali của Mụ đã chật cứng, Nga đưa tay bấm nút thì một âm-thanh thật là to vang lên làm Mụ phì cười, Nga thiệt tình nói:

- Ở bên Mỹ chắc chẳng có cái kiểu cầu thang này đâu nhỉ

Cầu thang ngừng xịt lại và đã đến cửa phòng của Nga, vừa bấm chuông thì một Bà Cụ khoảng trên 70 tuổi tóc bạc trắng như tơ bước ra. Mụ đoán ngay là Mẹ của Nga, Mụ lên tiếng:

- Cháu chào Bác ạ.

Bà Cụ ôm chầm lấy Mụ rất là tình-cảm, làm Mụ xúc-động muốn rơi cả nước mắt. Từ ngày liên-hệ được với Nga, Mụ cũng có nhận được một lá thư của Bà Cụ viết thăm hỏi và mừng rỡ khi biết 2 chị em đã liên-lạc được với nhau. Rồi Mụ bước qua nhà bếp, gặp Chị Chi là người Chị ruột của Nga đang gắp một con gà luộc từ trong nồi ra dĩa. Nhìn Chị Chi thật là hiền lành, Chị chỉ cười và hỏi qua loa về chuyến bay của Mụ.

Cảm-giác của Mụ khi rời phi-trường, ngồi trên xe qua những đường phố làm Mụ nhớ tới Sai-Gon nhiều lắm. Chẳng khác gì những con đường Tự-Do, Ngô Ðức-Kế, mà hồi trước năm 1975 còn những toà nhà xây theo lối kiến-trúc y như thế này. Con đường nào cũng có nhiều bóng cây làm che mất bớt cái nóng nực của muà hè. Một điều thật lạ đối với Mụ là ngoài đường phần đông toàn là các loại xe hơi nhỏ nhỏ, lùn lùn trông rất là dễ thương đầy phố. Nga cũng cho Mụ biết là ở Pháp người ta thường dùng xe bus và xe điện để làm phương-tiện tốt hơn là có xe hơi riêng vì đất tại Pháp rất là chật chội nên có một cái xe thì rất là tốn kém.

Vào đến nhà của Nga, nhà chỉ có 2 phòng, một phòng làm phòng tiếp-khách và ăn cơm luôn, một phòng có 2 cái giường của Nga và Chị Chi ngủ. Cái giường của Nga thì to gấp đôi giường của Chị Chi. Mụ thầm nghĩ: hèn chi mà Nga nghe tin Mụ qua nó lo lắng cũng phải. Phòng nào cũng nhỏ nhỏ, cả nhà bếp cũng giống như kiểu nhà ở VN. Nhưng Mụ lại thích thú, Mụ cảm thấy ấm-cúng gần gũi nhau nhiều hơn.

Mụ đã phone được cho con nhỏ Thảo Mù và Kim-Ðàn, Thảo Mù thì Mụ đã gặp mới đây ngày Họp-Mặt RP rồi. Còn Kim-Ðàn thì chỉ chót chét trên email của trường thôi. Nhưng Mụ cũng thật là vui thú khi sắp gặp được tụi nó. Kim-Ðàn chỉ ở xa nhà Nga có 15 phút đi xe, nên nó đã đến gặp Mụ Năm liền, thế là Kim-Ðàn cho Mụ và Nga ra phố đi lòng vòng, con nhỏ này ở bên Tây mà sao đen thui như ma-ní. Hỏi ra mới biết là tại nó mới đi biển về, Kim-Ðàn nhanh nhẩu và dễ thương, miệng nói liên-hồi nên làm Mụ Năm khoái lắm. Trước khi trở về nhà Nga Mụ Năm được Kim-Ðàn đưa về nhà thăm ngôi gia của nó. Ôi chao ơi, Mụ Năm và Kim-Nga cười đến vỡ bụng vì muốn vô tới nhà phải đi qua đến 6 cái cửa. Kim-Ðàn cho Mụ Năm ăn bánh mì Tây dòn rụm ngon thật là ngon. Nhà chỉ có ông chồng hiền lành và một con chó là cục cưng của nó.

Số của Mụ Năm xui quá, ngày hôm sau thì thời-tiết cứ mưa lâm râm hoài không tạnh. Mụ ngủ được một đêm, mong tới sáng để Nga dẫn Mụ đi xem những danh-lam thắng-cảnh tại Pháp nhưng ông Trời không chiều lòng Mụ. Thế là Mụ cứ nằm trên giường quấn chiếc mền bông vào ngủ hoài không muốn dậy. Vả lại, hồi đêm Mụ và Nga cứ thế chuyện trò cho tới gần 3 giờ sáng mới bắt đầu ngủ.

Chiều hôm ấy Thảo Mù sau giờ đi làm về thì ghé nhà Nga thăm Mụ, Mẹ của Nga và Chị Chi thật là khéo tay làm cả bánh bột lọc và nấu bún măng gà. Thế là cả nhà cùng vui vẻ với Thảo Mù cho tới tối. Thảo Mù điềm-đạm và dễ thương khác với cái nhí nhảnh của Kim-Ðàn, nhưng Mụ cũng cảm thấy sung sướng và ấm-áp có 2 đứa đàn em của Mụ. Thì ra là ông Trời thương tình cho mưa một ngày đầu tiên để Mụ đừng xí xọn ham ra đường sớm, Mụ đã ngủ được 1 ngày và qua hôm sau là ánh nắng ban mai đã chiếu qua khung-cửa làm Mụ mau chóng thức dậy để được người quen của gia-đình Nga là Anh Thìn đến đưa Mụ và Nga đi chụp hình quay phim, mua ít quà để sẵn mang về Mỹ biếu Mẹ của Mụ.

Sáng hôm đó Nga dẫn Mụ đi bộ ra một cửa hàng lớn ở gần nhà để mua, vừa đi bộ vừa than thở và Mụ phải phục Nga vì nó đi bộ nhanh và giỏi quá. Về nhà một lúc thì may quá có Anh Thìn đến đưa Mụ với Nga đi ra tháp Eiffel và cho biết một vài nơi nổi tiếng ở Pháp. Ông ta thật là vui tính, nhanh nhẹn nên làm Mụ cũng mừng thầm trong bụng vì không phải đi bộ nữa. Mụ và Nga cứ hí-hửng nói nhỏ với nhau: <tụi mình hên quá vớ phải Anh Rồng này cũng đỡ khổ>.

Cả ngày hôm đó Mụ và Nga được Anh Thìn cho đi cũng nhiều nơi ở Pháp, rồi Mụ còn đòi Anh Thìn và Nga đưa đi ăn đồ Tây, đi chợ Thai-Lan mua thật là nhiều các thứ trái cây. Mụ reo lên vì nhìn thấy trái măng-cụt, bòn bon, thanh-long, nhãn, vải, sầu riêng. Tất cả đều là trái cây tươi chứ không phải đông đá như ở Mỹ.

Buổi tối hôm nay là Mụ phải nhờ Anh Thìn đóng dùm cho Mụ một thùng quà để Mụ và Nga yên-tâm sáng ngày mai lên đường đi sang nước Ý. Có cả Kim-Ðàn đến chơi với Mụ nên không khí rất là vui nhộn, Kim-Ðàn còn cẩn-thận tặng cho Mụ một cây quạt giấy xinh xắn để đi qua Ý nếu khí-hậu có nóng nực. Mụ cũng rất là may mắn vì nhỏ Nga có 2 người bạn người Pháp sẵn có xe qua Ý để học-hỏi và nghỉ hè nên Nga nhờ xe của họ để 2 đứa đi theo. Mụ cảm thấy rất là vui và thú-vị gặp được Nga và 2 con bạn già dẫn nhau đi qua một cái nước thật là xa lạ. Mụ thấy Nga đã chuẩn-bị một cái bản-đồ của nước Ý. Vì qua tới là chỉ có 2 đứa đi với nhau thôi, 2 người bạn Tây của Nga họ đi những nơi riêng của họ.

Phần 2

Sáng thứ bảy ngày 24 tháng 08 Mụ Năm và Nga thức dậy từ sớm để sửa soạn hành lý lên đường đi cùng với Mẹ Nga và 2 người bạn người Pháp của Nga. Trên đường qua nước Ý sẽ ghé nhà của Anh Ðiệp Chị Oanh la Chị lớn nhất của Nga. Mẹ Nga và Anh Chị Oanh cũng ở tỉnh VilleFranche.

Cả 5 người chúng tôi đi từ 10 giờ sáng mà tới gần 9 giờ tối mới tới nhà Anh Chị Oanh, Chị Oanh đã làm tiết canh vịt để đón Mụ Năm. Mụ Năm thật là vui khi đến nhà Anh Chị Oanh, hai vợ chồng không có con, sống một cuộc sống thật an-lành nơi một căn nhà khá rộng có vườn cây giống như bên Việt-Nam. Trong nhà đầy đủ các dụng-cụ về nhạc như trống, đàn guitar, đàn organ. Tuy Anh Ðiệp Chị Oanh không chính-thức làm nghề ca nhạc nhưng vào những ngày lễ lớn thường hay tổ-chức để có dịp những người Viet-Nam quây quần lại vui chơi với nhau. Bước ra vườn lòng tôi như tưởng mình đang trở về một vùng quê nào ở quê-hương Viet-Nam, khu vườn rộng lớn trồng đủ các loại hoa và có cả cây bầu, cây rau mồng tơi, cà-chua, cây ớt ... Mụ Năm không thể nhịn được cười nhất là được gặp Anh Bernard là em ruột của Chị Li-Ne mà Mụ Năm chỉ mới liên-hệ trên email của Trường nhưng tiếc là Chị ấy đã đi Viet-Nam rồi. Mụ Năm đến Tây mà cứ ngỡ như trở về nhà quê của Viet-Nam vì gặp những người đàn ông như 2 ông bạn người Pháp của Nga và cả Anh Bernard cũng có vẻ như mắc cỡ, Mụ Năm có cảm-tưởng như người ở bên Pháp nhát gan không như những người đàn ông sống ở Mỹ. Ngoại trừ Anh Thìn, Mụ thấy có vẻ xốc vác và ga-lăng với phụ-nữ. Mụ Năm thật là ngại ngùng khi phải mở lời mời Anh Bernard chụp hình chung với Mụ để có hình đem về khoe với nhà RP đấy chứ !

Mụ Năm rất xúc-động với những người thân trong gia-đình của Nga và cả gia-đình của Anh Chị Lan là bạn của Anh Chị Oanh cũng dự tiệc chung với Mụ buổi tối hôm đó. Ðiều ngại ngùng đối với Mụ Năm nhất là cái cảnh người ở bên Pháp cứ gặp nhau là đưa má ra cho họ hôn cả hai bên, cử chỉ này làm Mụ thật mắc cỡ hết sức, nhưng Mụ lại cảm thấy vui vì nhận thấy tình-cảm những người Viet-Nam ở Pháp tràn trề không khác gì khi Mụ còn ở Viet-Nam. Chúng tôi ăn tiết-canh nên phải ngồi riêng một góc bàn, vì sợ 2 người Tây bạn của Nga nhìn thấy tiêt canh sợ và thắc-mắc. Thiệt là khổ tâm cho Mụ Thày Bói ham ăn mà vừa ăn cứ phải vừa trả lời cho mọi người về bói toán và phong-thuỷ.dfasfsfd

Cả một năm nay Mụ Năm chưa được ăn tiết canh, nên được Chị Oanh đãi Mụ phải ăn tới 2 dĩa một cách ngon lành lắm. Chúng tôi chỉ trò chuyện ngắn ngủi vì còn phải về bên nhà Mẹ Nga nghỉ ngởi để sáng mai lên đường đi tiếp. Buổi tối hôm đó về nhà Mẹ Nga, chỉ cách nhà Chị Oanh khoảng 5 phút ngồi xe, bà Cụ ở trong một chung-cư dành cho những người già nằm dưới chân ngọn đồi rất thơ-mộng. Mụ Năm không ngờ là Mẹ Nga chỉ ở có một mình, Cụ tâm-sự:

- Thôi thì sức-khoẻ cũng chưa đến nỗi, nên ở một mình cho thanh-thản và tự-do cho mình và cả con cái.

Bà Cụ chẳng những tự nấu ăn riêng cho bản-thân mà thỉnh thoảng Cụ còn làm thức ăn, gói giò lụa, các thứ bánh để mang lên Paris cho chị em của Nga. Và đã có lần Cụ quên cả tắt bếp làm cháy lan ra vì thế cả nhà Nga đều không đồng-ý cho Cụ nấu nướng nhưng Cụ vẫn làm theo ý-thích của Cụ. Nhìn Mụ Năm với Nga cứ rúc rích cười cười nói nói với nhau, Cụ chỉ biết âu-yếm nhìn 2 đứa rồi buông miệng nói:

- Thích nhỉ ! Thích nhỉ !

Sáng chủ-nhật Mụ Năm và Nga ngủ say sưa như chết, chẳng biết trời trăng gì hết vì cả đêm cứ trò chuyện với nhau mải mê. 2 ông Tây đến tận cửa gõ lúc đó mới biết là 8 giờ sáng rồi. Mẹ của Nga thì bảo:

- Thấy 2 cô ngủ ngon quá Mẹ không nỡ gọi dậy.

Và chúng tôi từ-giã Mẹ và Anh Chị Oanh của Nga để theo 2 ông Tây lên xe đi qua nước Ý.

Ngoài xa-lộ xe ở đây chạy với tốc-độ rất nhanh, xe chúng tôi phải chui qua rất nhiều ở những chân núi. Ðường đi núi non chập-chùng và khung-cảnh thật là đẹp. Nhất là nhìn thấy ngọn núi AlBel cao và hùng vĩ. Mụ Năm không quên đợi xuống xe để nhờ 2 ông Tây chụp cho hai con bạn già những tấm ảnh ở khung-cảnh đó. Mụ rất là thích thú mỗi lần xe bắt đầu chui vào một cái đường hầm do người ta thiết-kế. Nga nói khi xưa đã có lần nuí sụp để chết biết bao nhiêu mạng người. Qua một cái đường hầm dài nhất là đến biên-giới Pháp Ý. Chúng tôi phải nghỉ chân ở những trạm bán xăng để ăn uống và đi vệ-sinh. Không khí ở đây thật là đông đảo của khách du-lịch. Chúng tôi đem theo bánh mì thức ăn, trái cây và nước uống, không cần phải ghé vào nhà hàng nào cả. Cái không khí này khơi lại trong lòng Mụ Năm những hình-ảnh hồi còn nhỏ mỗi lần đi cắm trại.

Khoảng gần 10 giờ tối xe đã đến một khách-sạn nằm tại Rome. Sau khi lấy phòng thì chúng tôi dẫn nhau đến nhà hàng nằm trong khách-sạn. Trong thực-đơn ở đó chỉ ghi bằng tiếng Anh và tiếng Ý. Mụ, Nga và 2 ông Tây đều không hiểu gì hết. Chỉ đọc rồi đoán mò rồi kêu thức ăn, Mụ và Nga chỉ chọn một món thôi vì Mụ sợ ăn không được bỏ uổng. Khi Anh bồi đem 2 diã đồ ăn đâu tiên ra đặt ngay vào chồ của Mụ và Nga. Cả 2 đều ngạc-nhiên vì chỉ gọi một phần mà anh Bồi đem ra như vậy. Nhưng mọi người đều nghĩ là chắc Anh Bồi nghe lầm nên Mụ Năm và Nga ăn luôn. Vài phút sau thì Anh Bồi lại bưng ra một phần đặt vào chỗ của một ông Tây, 2 ông Tây và 2 đứa cứ nhìn về phía quầy của nhà hàng để chờ đem ra một phần nữa nhưng chờ mãi không thấy. Lúc ấy chúng tôi mới hiểu ra là Anh Bồi đã lầm lẫn rồi, thế là Mụ Năm được dịp hả họng cười, cười muốn vỡ cả bụng luôn. Mụ Năm không ngờ là 2 ông Tây lại hiền lành quá sức, 2 ông cứ nhìn nhau rồi nhìn Mụ Năm và Nga. Vì Mụ và Nga đã ăn 2 cái dĩa của 2 ông Tây mất rồi. Thiệt tình, đúng là bất đồng ngôn-ngữ!

Ăn uống no nê Mụ Năm và Nga trở về phòng của mình trong khách-sạn để ngủ, Mụ Năm lại ngạc-nhiên vì trong nhà tắm có tới 2 cái bàn cầu để ngồi vệ-sinh, Nga mới giải-thích cho Mụ hiểu là một cái đi vệ-sinh còn một cái để rửa. Mụ Năm cứ tủm tỉm cười mãi vì nghĩ sao dân Ý này kỹ càng quá đi thôi. Mụ và Nga chuyện trò mãi, không biết chuyện ở đâu ra mà nói hoài nói mãi cũng chưa hết. Mụ mong tới mau sáng để bắt đầu vào cuộc phiêu-lưu của Mụ và Nga. Vì sáng mai chỉ có 2 đứa dẫn nhau đi với nhau thôi, Mụ cũng thật là hồi-hộp vì Mụ chưa bao giờ biết đi xe điện ở đây như thế nào. Mụ cũng sợ lắm nhưng phải liều một phen.

Phần 3

Sáng hôm ấy là ngày thứ hai 26 tháng 8. Mụ Năm và Nga phải dậy từ trước 9 giờ. 2 đứa dẫn nhau lên phòng điểm-tâm của khách sạn để ăn sáng, chuẩn-bị cho kịp chuyến xe ô-tô buýt của khách sạn chở ra bến xe điện. Trên tay Nga lúc nào cũng cầm một cái bản-đồ tại địa-phương của tỉnh Rome. Mụ Năm ngồi trên xe điện với Nga mà lòng lo lắm. Người Ý thật là đông ngoài bến xe điện, đi vào phòng vé Mụ thấy Nga mua một cọc vé để dành, Mụ cũng hồi-hộp vì đã nghe Kim-Ðàn dặn dò qua Ý phải cẩn-thận. Mụ thấy Nga đeo trên cổ cái ví đựng giấy tờ, tiền bạc rồi khoác ngoài một cái áo để che cái ví tiền lại. Mụ Năm nhìn thấy rất nhiều người có hình dạng giống dân khủng-bố mà Mụ đã thấy trên tivi.

Ðó là một con đường dưới hầm thật là dài, người ta phải dùng nhiều ngọn đèn vàng sáng trưng. Những toa xe nối vào nhau chạy từ xa đến rồi ngừng lại cho mọi người bước lên. Trên xe điện, ghế thì ít, chỗ trống để cho người ta đứng chen chúc bên nhau. Làm Mụ nhớ lại hồi ở VN Mụ cũng đi xe bus tương tự như vậy. Còn có những người hành-khất mặc quần áo và mang giầy tây lịch-sự vừa đàn vừa hát để xin mọi người bố-thí ít tiền lẻ. Mụ Năm ngồi cạnh Nga mà lòng lo ngai ngái, nhớ tới Chi Li-Nè đã bị giựt dây chuyền ở Sai-Gon Mụ lấy tay kéo cổ áo lên cao để che sợi dây chuyền trong cổ của Mụ. Xe điện lao đi vun vút với một tốc-độ rất là nhanh. Khoảng vài phút Nga đã kéo tay Mụ xuống trạm để đi đến Tòa-Thánh VaTiCant. Xuống xe Mụ Năm và Nga đi bộ một quãng thì 2 đứa đã nhìn thấy cái nóc cao cao của Tòa-Thánh rồi. 2 đứa reo lên mừng rỡ và đi bộ tiếp chừng 10 phút là vào đến VaTiCant.

Người da trắng da đen đủ các nước chen chúc nhau trong khu vực này rộng lớn đi muốn mỏi chân luôn. Những bức tường to lơn nằm xen vào những cái cột bự cả 10 người ôm không hết được trạm- trổ rất là sắc xảo tỉ mỉ và đẹp lắm. Trên vòm trời toàn là những con chim từ đâu bay làđà đến đây cả một khu vưc của Tòa-Thánh, đúng là đất lành chim đậu.

Mụ Năm được xếp hàng bước vào tận bên trong của VaTiCant, Ôi, không thể nào diễn-tả cái đẹp cổ-kính huyền-bí của một thời xa xưa đó. Ngoài cửa có 2 ông lính gác cổng mặc áo quần theo thời xưa đứng thật nghiêm-trang. Trước khi rời Tòa-Thánh Mụ Năm và Nga ngồi nghỉ trên bậc tam cấp ngoài cửa, 2 đứa nhìn nhau cười vì trong ý-nghĩ đều cùng có một cảm-tưởng không ngờ sau bao nhiêu năm gặp gỡ được dẫn nhau đi chơi trên miền đất lạ Mụ Năm nói liên miên không ngừng, còn Nga thì lẳng lặng chỉ biết cười cười với Mụ thôi.

Nga lại tiếp-tục dẫn Mụ ra ngoài phố để đến một tiệm bán bánh Pi-Gia, trong tiệm chỉ là để khách vào mua rồi tự bưng ra bàn ghế được kê ngoài vỉa hè. Mụ Năm rất khoái chí được ngồi ngoài đường tha hồ mà ngắm thiên-hạ đi qua đi lại. Cái bánh Pi-Gia hình vuông nhỏ chưa bằng cuốn tập viết, người ta làm thật là mỏng nên ăn rất dòn mà giá chỉ có hơn 1 đô-la thôi. Nhìn thấy hàng bán trái cây ở lề đường Mụ Năm cũng ghé vào để mua vài trái mận ăn cho đỡ nhạt miệng. Mụ chỉ lấy có 4 trái đưa cho Bà bán hàng cân nhưng Mụ nhanh mắt nhìn thấy Bà bỏ thêm vào cái bao đựng mận. Mụ nhanh tay lấy ngay cái bao lại mở ra ngay thì ôi thôi ! Bà ta đã cho vào thêm vài trái mận đã thúi. Mụ liền lấy ra và nhìn Bà một cách không hài lòng. Bà bán hàng có vẻ ngượng ngập vì không ngờ Mụ đã biết. Nga thì chỉ biết nhìn Mụ rồi tiếp tục cười.

Mụ Năm ghé vào những quầy hàng bán áo quần giầy dép bên dọc lề đường, chỉ có vài đồng bạc một cái áo hoặc đôi giầy. Mụ thấy nhớ Chợ Sai-Gon quá, vì đó là loại hàng làm bán cho những người dân nghèo. Chiều đến, Mụ Năm phải đến bến xe điện trước 5 giờ cho kịp chuyến xe buýt đưa về khách-sạn. Mụ cảm thấy thích-thú và hăng-hái lo đi ngủ để ngày mai tiếp tục cuộc hành-trình của 2 đứa.

Sáng thứ ba ngày 27 tháng 8, Mụ với Nga lại theo bản-đồ dẫn nhau đi tìm đến Thành La-Mã. Vừa bước ra khỏi cổng bến xe điện là đã nhìn thấy Thành La-Mã lù lù mọc ngay bên kia đường. Cả đoàn xe có con ngựa kéo khách đi đầy cả đường, còn có những ông lính La-Mã mặc áo quần kiểu xưa vác dao vác kiếm đứng cạnh những khách thích kê dao vào cổ phải trả chi-phí nhỏ cho các ông ấy. Mụ và Nga đi dọc hết những thắng-cảnh mà ngày xưa Mụ vẫn còn nhớ trong các phim ảnh nói về cuộc đời của Chúa Giê-Su và phim Cleopatre đều quay ở những cảnh này.

Trưa hôm nay, 2 đứa tình cờ gặp một nhà hàng Trung-Quốc, Mụ Năm và Nga mừng lắm dẫn nhau vào định kêu một tô mì hoành-thánh. Trong thực-đơn và người bồi bàn cũng chỉ dùng tiếng Ý nhiều. Nên 2 đứa cứ nghiên-cứu mãi mà không biết làm sao để gọi mì hoành-thánh. Sau khi chỉ chỏ và diễn-tả, cũng may mắn là cô bồi bàn đem ra cho chén hoành-thánh, nên Mụ phải ăn 2 chén mới đủ no. Mụ Năm và Nga ghé vào những cửa tiệm bán áo quần khá lớn tại Rome, bên ngoài vẫn giữ những nét cổ kính của thời xưa cổ nhin` rất lạ và khác hẳn những cửa hàng ở tại Pháp.

Tối hôm nay chẳng biết tại sao cả 2 đứa không sao ngủ được ? Vì sáng ngày mai là ngày 28 tháng 8 là ngày đi gặp Ðức-Giáo-Hoàng tại nhà nghỉ mát của Ngài. Nga đã hỏi trước những nhân-viên của khách-sạn, họ nói chỉ có đi xe taxi mới tiện đến nơi đó. Nhưng Nga thì không muốn tốn một số tiền lớn, hồi sáng nay tình cờ Nga đã gặp một Bà người nước Ý nhưng nói được tiếng Pháp và Bà ta đã chỉ cho Nga cách để đi xe buýt đến. Nhưng 2 đứa vẫn hồi-hộp vì sợ không biết có chắc chắn hoặc đi sai đường thì không có lần nào gặp được Ðức-Giáo-Hoàng nữa. Mụ Năm chỉ biết lâm râm cầu-nguyện để được một lần nhìn thấy một vị đứng đầu của Ðạo Thiên-Chúa.

Hai đứa thức dậy từ lúc trời còn tờ mờ chưa sáng hẳn. Hôm nay trời mua tầm-tã, Nga dùng 2 cái bọc ny-lông được xé ra để làm 2 cái nón đội lên đầu cho đỡ khỏi ướt. Xe buýt của khách-sạn đưa chúng tôi ra tới bến xe điện, nhưng lần này thì phải tìm xe buýt đi tiếp chứ không dùng xe điện nữa. Nga cẩn-thận mang theo một tấm hình có Ðức-Giáo-Hoàng thật là to, đem ra ngay trạm xe buýt hỏi các ông làm việc trong văn- phòng. May quá có lẽ gặp được người có đạo nên chỉ cho 2 đứa mua vé đúng ngay trạm để đến. Nhưng Nga cũng chưa yên-tâm, lúc đứng ở trạm chờ xe Nga lại hỏi thêm một vài người hành-khách cùng đi một chuyến. 2 vợ chồng ông bà người Ý nhìn chúng tôi rồi gật đầu, Mụ Năm chỉ biết bịt miệng rồi nhìn Nga vì nhịn cười không nổi.

Hai đứa ngồi trên xe mà trong lòng thấp-thỏm hồi-hộp chi lạ. Vì nếu đi sai tuyến-đường là mất cơ-hội gặp được Ðức-Giáo-Hoàng. Xe buýt chạy khoảng hơn 15 phút thì Nga đã reo lên:

- Ðúng rồi ! người ta đi đông lắm.

Mụ Năm nhìn phía tay phải của con đường thì quả nhiên thấy người người nào mặc áo mưa nào che dù thật là đông đang tiến lên một cái dốc thật cao. Hai đứa chúng tôi vội-vã bước xuống xe, một tay xách giỏ một tay giữ lấy cái bọc ny-lông đang đội trên đầu để che mưa. Trời mưa hoài không dứt, mà 2 đứa không còn thấy lạnh gì cả. Phải cố-gắng leo lên hết cái dốc này mới tới được ngôi Thánh-Ðường. Mụ Năm vừa đi vừa thở hổn hển nhắc nhở Nga coi chừng té. Hai đứa cố chen lấn vào giữa đám đông không thể tưởng tượng được, vì đúng 10 giờ 30 cổng cửa nhà thờ mới mở ra trong khi trời thì vẫn mưa tầm tã. Hai đứa quần áo đầu tóc ướt nhẹp, nhưng vẫn nhe răng ra cười với nhau vì sự vui mừng đã đến nơi được. Hai cánh cửa Thánh-Ðường mở ra, đó chỉ là một cái sân nơi Ðức-Giáo-Hoàng và Các Hồng-Y, Các Ðức Cha nghỉ. Trên nóc cao có treo sẵn một cái tấm ny-lông thật to để che đỡ cho mưa gió. Nhìn lên có những cửa sổ Cô Dâu và Chú Rể ló đầu ra với những bộ quần áo lịch-sự. Ngoài cổng mấy ông lính gác cổng, rồi xe cứu-thương và bảo-vệ nhiều lắm. Một bầu không khí đông-đảo nhưng trật-tự, những người đi theo từng nhóm thì có một là cờ của từng quốc-gia được giơ lên cao. Hết nhóm này hát lên những bài ca nghe thật êm tai rồi lần lượt đến nhóm khác. Có những người đàn ông chìu con chịu khó vác mấy đứa trẻ khoảng 2, 3 tuổi ngồi trên cổ của họ.

Mụ Năm được dịp đứng cạnh những Chú giúp Lễ khoảng trên 10 tuổi thật dễ thương trong những trang phục mà cách đây mấy chục năm Mụ đã được nhìn thấy ở những nhà thờ lớn ở Viet-Nam. Hai đứa nhờ nhỏ con nên cũng đã chen lấn lên được phía trên để dễ nhìn được trên khán-đài. Mụ Năm thì thấp hơn Nga, nên cứ một lúc thì Mụ lại phải nhón gót chân lên Mụ nhìn được cái ghế ngồi của Ðức-Giáo-Hoàng đã đặt sẵn ở giữa khán đài. 2 bên có 2 người lính mặc áo quần rực rỡ chống bên cạnh một cái gươm thời xưa. Dưới nền và trên vách được trang-hoàng một loại nhung màu đỏ trông thật là cung kính. Phía bên tay phải là một cái tivi thật là lớn dành cho những người đứng xa có thể theo dõi được.

Mọi người đang xôn-xao thì những tiếng tung-hô đủ loại ngôn-ngữ vang lên, Ðức-Giáo-Hoàng đang lom khom bước ra khán đài, trên tay Ngài cầm một cái ba-ton. Ngài nghiêng đầu nhìn lên giáo-dân rồi đưa cây ba-ton ra hiệu chào đón mọi người. Thiện-hạ lao nhao người giơ máy chụp hình, đưa máy quay phim lên xơ qua xơ lại Mụ Năm muốn đứng không vững. Cũng may là Nga cao hơn Mụ nên Nga cũng ráng giơ cao cái máy quay phim thu được những hình-ảnh đáng quý này. Mụ phải ráng kiễng gót chân lên hết mực mới nhìn thấy được Ðức-Giáo-Hoàng. Ngài được 2 Ðức Cha dìu xuống chiếc ghế từ từ ngồi xuống. Rồi Ngài cất tiếng nói lên nhưng Mụ Năm và Nga không thể hiểu được tiếng Ý mà cũng chẳng có ai để mà hỏi. Trong âm-thanh giọng nói của Ngài nghe run run theo cánh tay và bàn tay trái của Ngài, nhưng tinh-thần Ngài vẫn còn sáng suốt lắm. Ngài đã hòa theo tiếng hát của giáo-dân để ca theo trong tiếng khò khè mệt nhọc.

Mụ Năm chợt giật mình nghĩ tới: trong cuộc đời có khi nào Mụ biết được là bản-thân mình có thể gặp được Ðức-Giáo-Hoàng không ? Hình như chưa bao giờ dám nghĩ tới. Tự nhiên nước mắt Mụ tràn ra hai khoé mắt trong cảm-giác xúc-động lạ thường. Mụ có cảm-tưởng như đang được đứng gần bên một Ðấng Tối Cao.

Phần 4

Nga cùng Mụ Năm len lỏi trong đám người bước chân ra khỏi nhà nghỉ mát của Ðức-Giáo-Hoàng. Bên ngoài trời đã dứt mưa, nhưng con đường vẫn còn ướt đẫm. Mụ Năm cảm thấy trong người nhẹ nhàng và 2 đứa tìm một quán nước để mua nước uống rồi nhanh chân tìm trạm xe ô-tô buýt. Mụ Năm và Nga gặp được 2 bà sơ người Viet-Nam cùng đi chung với các bà sơ người Ý. Lần đầu tiên ở nước Ý gặp được người Viet-Nam nên 2 đứa mừng rỡ lắm. Chúng tôi đứng ngay trạm xe hàn-huyên thăm hỏi nhau. Thì ra 2 sơ được nhà Dòng bên Viet-Nam cho qua tham-quan gặp gỡ các Chi Em nhà Dòng tại Ý. Các sơ da trắng đã đến đứng bên nhau nói chuyện ríu rít như chim vỡ tổ thật là vui.Về đến bến xe điện, Nga lại dẫn Mụ Năm đi phố một lần cuối vì sáng mai là chúng tôi lên đường trở về Pháp.

Mụ Năm rủ Nga ghé vào nhà hàng Trung-Quốc ăn bữa trưa rồi không quên mua một ít càng cua và chai bia về khách-sạn để gọi là giã-từ nước Ý. Tối hôm ấy Mụ Năm và Nga thức thật khuya, 2 đứa ngồi bên nhau nhắc lại những vui buồn của cuộc hành-trình vừa mới qua. Nga hỏi Mụ Năm:

- Sao ? Mụ có thấy gì ân-hận khi qua đây không ?

Mụ không cần suy-nghĩ:

- Ôi, quá thú-vị và vui sướng hơn sức tưởng tượng của Mụ rồi còn muốn gì hơn nữa. Có vài ngày ngắn ngủi mà biết được nhiều nơi như vậy. Lại được đi cùng với một con nhỏ bạn từ hồi nhỏ cho đến nửa đời người mới gặp nhau như tụi mình là thiệt phúc đức.

Nga cười cười rồi nói:

- Tụi mình đúng là có duyên với nhau Mụ nhỉ ?

Mụ Năm vừa uống xong ngụm bia còn lại rồi nói:

- Phải cám ơn trường RP, những người thành-lập ra hộp-thư trên máy cho Mụ tìm được Nga và bao nhiêu bạn-bè Nga à.

Mụ vừa cầm điếu thuốc phì-phèo một cách thoải-mái sung sướng vừa ngẫm nghĩ lại cuộc-đời của Mụ trải bao thăng-trầm trôi nổi. Ðã qua biết bao năm Mụ đã đi bộ lại với Nga nhiều như vậy, nhưng Mụ lại hăng-hái và thật là vui đến quên cả mỏi mệt. Mụ nhìn Nga bây giờ đã có những sợi tóc điểm bạc trên mái tóc rồi Mụ nhớ lại những năm tháng còn ngồi chung một lớp trong trường Régina-Pacis. Thời-gian trôi qua thật là nhanh và Mụ thầm cám ơn thượng-đế đã cho Mụ có những ngày hôm nay gặp gỡ lại người bạn xa xưa ấy.

Hai đứa lên giường còn thủ thỉ cho mãi khuya thật khuya, Mụ thầm nghĩ ngày mai Mụ sẽ trở lại nước Pháp 2 ngày nữa rồi Mụ mỉm cười thiếp đi trong giấc ngủ. Sáng ngày 29 tháng 8 là thứ sáu. 2 đứa đã thức dậy từ sớm để sắp xếp hành-lý xuống gặp lại 2 ông Tây để cùng trở về Pháp. Chúng tôi lại được dịp trở về nhà của Mẹ Nga ở lại một đêm. Mãi tới 10 giờ tối mới đến nhà Chị Oanh. Chị Oanh đã nấu sẵn mì nước cho chúng tôi ăn bữa tối. Và 2 đứa ngủ lại với Mẹ Nga một đêm. Bà Cụ cứ thở dài rồi nói:

- Ngày vui qua mau quá !

Rồi Mụ Năm đã chụp nhiều tấm hình với Bà Cụ để làm kỷ-niệm. Sáng ngày 30 tháng 8 thứ bảy, cả 2 đứa đều ngủ quên cho tới lúc 2 người bạn Tây của Nga đến tận cửa gọi. 2 đứa giật mình vội vã sửa soạn hành-lý để lên đường về nhà Nga. Bà Cụ thì cứ tủm tỉm cười rồi thủng thỉnh nói:

- Thấy các con ngủ ngon quá nên Mẹ không muốn gọi.

Thế rồi Mụ Năm lại bùi-ngùi rưng rưng nước mắt từ-giã Bà Cụ và Anh Ðiệp Chị Oanh. Khoảng gần 4 giờ chiều là Mụ Năm và Nga đã được 2 ông Tây đưa về đến nhà của Nga. Mụ Năm cũng xí xọn được chụp vài tấm hình với 2 ông Tây đó để đem về khoe với đàn Chị đàn Em trong trường Régina-Pacis của Mụ.

Tới nhà Nga 2 đứa thay phiên nhau gội đầu tắm rửa xong thì Mụ Năm trổ tài làm món gỏi cuốn để đãi Chi Chị và Nga. Mụ vừa ngồi trong bếp xắt từng con tôm đỏ au ra thật mỏng để cuốn với bánh tráng, Mụ pha tương làm nước chấm. Mụ miên man buồn buồn nghĩ tới còn có 2 đêm nữa là Mụ giã-từ Nga, tạm-biệt thành-phố Pháp này nơi Mụ vừa một lần được đến sau bao ngày Mụ phải chờ đợi hồi-hộp.

Ba chị em đang chuẩn-bị dọn gỏi cuốn ra bàn ăn thì Anh Thìn và có cả Chị Lạc là bạn của Chị Chi đến thăm chúng tôi. Thế là Mụ Năm đã có bạn cùng cụng ly với Mụ. Chị Chi của Nga đã mua sẵn mấy trái sầu riêng và thật là nhiều măng-cụt để đãi Mụ ăn cho đã. Anh Thìn thật là sốt-sắng lo sắp xếp hành-lý gọn gàng cho Mụ. Anh còn đề-nghị chiều mai là bữa cuối cùng Mụ còn ở Pháp, Anh sẽ mời Mụ và cả 2 Chi em Nga đến nhà Anh dùng một bữa cơm do chính tay Anh làm đầu bếp.

Sáng ngày chủ-nhật 31 tháng 8 Mụ Năm với Nga đã hẹn với Thảo Mù và Kim-Ðàn để 4 chị em gặp nhau. Kim-Ðàn đã đem xe đến đón Mụ và Nga đi phố cho Mụ mua một ít đồ về làm quà. Nhỏ Kim-Ðàn thật là vui nhộn. 4 chị em dẫn nhau vào Quán Tre là một nhà hàng VN nổi tiếng tại Pháp. Chúng tôi ríu ra ríu rít như trẻ con từ ngoài phố tới vào trong tiệm. Rồi Kim-Ðàn còn dẫn cả đám đến một con suối nhân-tạo thật là tình tứ và thơ-mộng, nhưng rất tiếc chị em chúng tôi đã làm con suối đó ồn-ào náo-nhiệt lên.

Ðến chiều thì Mụ Năm đã chia tay với Kim-Ðàn và Thảo Mù. Anh Thìn cũng chụp cho 4 chị em những tấm ảnh kỷ-niệm rất là vui. Sau khi chia tay với Thảo Mù, Kim-Ðàn, Mụ đi cùng Chị Chi và Nga đến nhà Anh Thìn để ăn bữa cuối. Trước kia Anh Thìn cũng là một không-quân trong Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Vừa bước vào nhà là nhìn thấy tấm ảnh Anh Thìn đứng thật oai-phong. Làm cho Mụ lại chợt nhớ về một thời chinh-chiến ở quê nhà.

Anh Thìn gốc người miền Nam, tính tình rất là vui vẻ, chất-phát thực thà. Những câu nói của Anh đối với bất cứ ai nghe cũng rất thân-mật. Vả lại, người Việt-Nam ở bên Pháp rất là ít nên sự chân-tình thân thiện giống như người một nhà. Thoạt đầu Kim-Ðàn nghe Anh Thìn nói chuyện với Mụ Năm cứ tưởng Mụ và Anh ấy có tình ý gì với nhau. Nhưng thực ra chỉ là vui và thân-mật thôi. Những ngày Mụ Năm ở Pháp đều là do Anh Thìn giúp cho Mụ với Nga đi được những nơi danh-lam thắng-cảnh, Anh hết lòng giúp cho Mụ một cách vui vẻ và nhiệt-tình.

Mụ Năm không ngờ Anh Thìn làm thức ăn rất khéo, cua phát-xi, nào mì nước, nào ốc Tây. Toàn những món khoái khẩu của Mụ. Mụ ăn thiệt tình và Mụ rất là vui. Ðêm nay là đêm cuối Mụ và Nga sắp chia tay. Hình như cả 2 đứa đều không còn nói nhiều với nhau như những ngày mới gặp. Trong lòng Mụ vừa vui vừa buồn buồn, vì nghĩ đến con đường xa xôi từ Mỹ qua Pháp và Mụ không biết ngày nào mới gặp lại Nga nữa. Nga lo dặn dò Mụ về hành-lý đồ-đạc, còn Mụ thì cứ ngẩn-ngơ chẳng để ý gì hết. Tới gần 10 giờ đêm hôm đó, Mụ yêu-cầu Nga cắt tóc dùm Mụ. Mấy ngày trước thì Mụ cũng đã có ý-định nhưng bây giờ không biết phải nói gì nên Mụ phải bày việc ra để 2 đứa cùng thức. Càng về khuya Chị Chi hình như đã ngủ say mà 2 đứa cứ lục đục ngoài sau bếp, cắt xong Mụ mới đi tắm gội rồi còn ăn tô mì nước của Anh Thìn đãi hồi chiều mà Mụ đã tham lam đòi đem về tối mới ăn.

Tối hôm đó Mụ phải cố-gắng lắm mới dỗ được giấc ngủ, cuộc vui nào mà không tàn. Mụ buồn buồn và trong lòng luôn nghĩ biết bao giờ gặp lại ? Buổi sáng thứ hai ngày 1 tây tháng 9. Anh Thìn đã đưa xe đến đón Mụ và Nga để ra phi-trường Pháp. Mụ Năm lại rưng rưng nước mắt ôm Chị Chi để từ-giã từ lúc còn ở nhà. Vì chiếc xe của Anh Thìn chỉ còn đủ chỗ cho Mụ và Nga ra phi-trường. Cái giây này phút này Mụ Năm không thể nào quên được, Mụ và Nga chẳng biết nói gì với nhau nữa. Cả 2 đều lẳng lặng nghe Anh Thìn nói chuyện về chuyến bay của Mụ. Mụ muốn cho thời-gian đi chậm lại để được gần kề con nhỏ bạn. Hai đứa ngồi với nhau trên chiếc ghế ngoài phi-trường. Bất chợt Nga nói:

- Biết chừng nào mới gặp nhau nữa ?

Rồi Nga đã rưng rưng trong khoé mắt.

Mụ cười cười, cúi xuống giỏ tìm một miếng giấy đưa cho Nga:

- Còn nhiều cơ-hội lắm Nga ơi, yên-chí đi.

Chưa tới giờ nhưng Mụ Năm không còn muốn giây phút này ở cạnh Nga Mụ sẽ không biết nói gì hơn. Nên Mụ vội vàng đòi vào trong, Mụ đứng lên mạnh dạn ôm Nga xiết vào lòng trong khi nước mắt Nga đã tuôn tràn. Làm Mụ hết cầm lòng nổi và Mụ cũng nức-nở lên. Một tay Mụ kéo chiếc va-li nhỏ và tay kia cầm một cái giỏ giấy đựng giấy tờ với một ít trái cây mà Chị Chi đã sắp sẵn cho Mụ để lên máy bay ăn.

Người nhân-viên xem xong giấy tờ bằng lòng cho Mụ vào, Mụ đưa mắt lên nhìn Nga và Anh Thìn một lần cuối rồi Mụ quay mặt đi thật nhanh vào con đường bước vô phòng trong. Vừa đi Mụ vừa nức-nở khóc thật nhiều, khóc hoài đến sưng cả đôi mắt. Lần đầu tiên đi trên máy bay mà Mụ Năm không thể nào chợp mắt đi một chút được. Thường thường mỗi lần Mụ ngồi trên máy bay là Mụ hay ngủ li bì, khi nào đói thì ăn cho no lại lăn ra ngủ tiếp. Thế mà chuyến này chẳng hiểu tại sao Mụ cứ miên man nhớ về những kỷ-niệm vừa qua, nhớ từng người trong gia-đình của nhỏ Nga, nhứt là nghĩ tới lúc chia tay với Nga thì Mụ lại nức-nở khóc. Cả 2 đứa đều gần 50 tuổi mà chẳng đứa nào có chồng, vẫn sống cô-đơn lẻ loi. Mụ Năm thì sức-khoẻ tốt hơn Nga còn Nga thì ra vào bệnh-viện giải-phẫu đã 2 lần rồi. Bất cứ tìm được người bạn xưa nào Mụ cũng cảm thấy yên-tâm khi nghe nó được an vui bên chồng con. Duy chỉ có mình Mụ và Nga là 2 đứa cùng cảnh ngộ về đường tình nên Mụ lại dễ thông-cảm và thương Nga nhiều. Bên cạnh Mụ cũng có 2 vợ chồng người Viet-Nam đi cùng chuyến với Mụ, bà vợ cũng ghé miệng hỏi sao Mụ khóc. Nhưng Mụ chỉ vờ đi rồi nói qua chuyện khác.

Cho đến bây giờ, nếu có giờ rảnh thì Mụ lại đem những tấm ảnh chụp ở Pháp, Ý và coi đi coi lại cuốn video quay bên đó. Mụ cảm thấy thật là vui và luôn tự gởi lại chính bản-thân Mụ một kỷ-niệm đẹp, đáng ghi nhớ trong cuộc đời của Mụ.

Nam Hải
(Oct 16, 2002)
Namhaing@aol.com


Lời Tri Ân

Mùa Thu. Tôi nhìn mùa Thu đến trong cái đẹp dịu dàng, thật nên thơ của cảnh thiên nhiên. Nên thơ từ những cơn mưa nhẹ, làn sương mềm mỏng buổi sớm mai, từ những chiếc lá muôn màu. Những cơn gió mùa thu cũng thoải mái lắm, chỉ thoảng lạnh chứ không buốt làm cho người và cây cỏ phải rùng mình. Không gian đẹp tuyệt vời. Tôi thầm thán phục và cảm tạ Chúa đã cho nhân loại một mùa Thu thật ý vị. Tôi đã mượn những lời của Thánh Zacarya để chúc tụng Chúa (Luca 2:68-80).

Tôi chợt nghĩ, Giáo Hội rất khôn ngoan khi chọn tháng 11 để cảm tạ Thiên Chúa, để tưởng các Thánh, các linh hồn và để nhắc nhở giáo dân chuẩn bị tâm hồn cho mùa Vọng. Trong tâm tình tri ân và chuẩn bị cho mùa Vọng, tôi hướng lòng về Mẹ Maria, vì hình ảnh Mẹ không thể vắng bóng trong cuộc sống đạo của tôi. Từ tấm bé, tôi được đưa vào ở nội trú trong trường Regina Pacis. Chín năm sống trong nội trú, hình ảnh của Mẹ đã ghi sâu trong trí óc, tâm hồn và đời sống của tôi. Khi vui buồn, lúc thành công, thất bại, hay khi sợ hãi, tôi vẫn tin có Mẹ hằng phủ bóng che chở tôi. Hình ảnh Mẹ càng lớn hơn đoạn tôi là thiếu nữ 17 tuổi đời, mang trong trí tưởng phiêu bồng một bến bờ tương lai mật ngọt. Thuở ấy tôi ở Pháp và được diễm phúc hành hương viếng Mẹ tại Lourdes. Nhìn lên Mẹ, tôi cầu nguyện mà không khỏi bùi ngùi xúc động. Nước mắt tuôn trào. Nước mắt của yêu thương. Nước mắt của mong mỏi được làm con Thiên Chúa. Nước mắt của tạ ơn đã đón nhận bao hồng ân Chúa ban xuống cho ba mẹ và anh em chúng tôi dù những ngày đó gia đình tôi chưa được ơn trở lại.Hình ảnh chan chứa yêu thương của Mẹ Maria càng đậm nét hơn khi tôi lập gia dình, sinh con và sống những chuỗi ngày thứ Tư của người Cursillista. Mẹ dạy tôi đón nhận ơn đức tin từ Chúa. Qua Mẹ tôi xác tín được Tình Yêu tuyệt vời của Chúa. Mẹ dạy tôi tìm đến sự thinh lặng, chiêm ngưỡng khi Chầu Thánh Thể mỗi buổi sớm mai thứ Bảy. Mỗi sáng thứ Bảy khi tôi rời nhà, bầu trời còn đầy sao, trăng đẹp lúc khuyết lúc tròn và bóng đêm còn dầy đặc. Tôi rất sợ bóng tối. Nhưng với Mẹ cùng bước, tôi hăng hái và bền vững thực hiện được việc chiêm ngưỡng Thánh Thể mỗi sớm thứ Bảy đã hơn một năm nay.

Trong thinh lặng, tôi học nơi Mẹ sự suy gẫm như sau khi Người tìm Chúa trong đền thờ (Luca 2:51). Tôi nhận thức được thinh lặng mở đường cho đức khiêm nhu, dẫn đến chổ quên mình và cảm nếm được nét dịu dàng, êm đềm trong tình yêu của Chúa. Việc chiêm ngưỡng thúc đẩy tôi tham dự thánh lễ hằng ngày. Tôi xác tín đươcĩ sự khôn ngoan từ Phúc âm, sức mạnh từ Mình Máu Chúa. Tất cả đã giúp tôi kiên vững khi đối diện với những thách đố của đời sống để từ đó lòng bình an, nhẹ nhàng và dễ phó thác hơn.Với bản tính hồn nhiên và không toàn thiện tôi đến với Mẹ trong thành tín với ý muốn được vươn lên. Mỗi bình minh đến, tôi ước ao Chúa phải nổi bật lên, và tôi phải lu mờ đi (Gioan 3:30). Mẹ kiên nhẫn dìu đắt, cầu bầu cho tôi. Và tình yêu Chúa lớn dần mỗi ngày trong tôi. Tôi cũng thay đổi từ từ qua từng ngày một.Tôi đã bước cùng Mẹ những bước yêu thương trên hành trình đức tin và mang Chúa đến cùng với các con tôi, môi trường mà tôi dấn thân hoàn toàn trong tin yêu.

Mỗi chiều, sau khi tan sở, tôi làm các việc thường nhật của một người con, người vợ và người mẹ. Tôi lắng nghe mẹ chồng tôi tâm sự hay kể những giấc mơ của người. Ở xứ này, con cháu đi làm hoặc đi học cả ngày nên các cụ buồn vì không có người để tâm sự. Ðôi khi tôi cũng kể cho mẹ nghe những câu chuyện vui cười hoặc các tin tức trong ngày để giúp người quên đi một ngày dài trong cô đơn. Sau bữa cơm chiều, tôi thường gần gủi các con tôi, xem các bài vở của chúng, dạy chúng học, tập chúng đàn, đọc sách cho chúng hay mẹ con cùng nhau đàn hát rân nhà. Lắm khi tôi nghe hai đứa con gái út sinh đôi của tôi ngâm nga bài hát "Alleluia", hoặc "Mế Colores", tôi thấy vui trong lòng. Hai cháu bé vừa tròn 5t nên chưa nói rõ được chữ De Colores nhưng hát ngọng được cả bài. Những ngày cuối tuần tôi thường giúp hoặc nhắc nhở chồng tôi trong các công tác tông đồ của anh.Tất cả những việc làm ấy đều rất bé mọn và tầm thường, nhưng tôi làm với tất cả yêu thương và nhiều cố gắng. Kết quả của những sự cố gắng ấy là niềm vui khi thấy các con tôi lớn lên mỗi ngày trong chiều kích đức tin, tình mẹ chồng con dâu gắn bó hơn, vợ chồng nhiều thông cảm và yêu thh ơng hơn. Trong 13 năm sống đời hôn phối, vợ chồng tôi xung đột với nhau một lần duy nhất. Chúng tôi đã làm hòa với nhau ngày sau đó và cùng hứa với nhau sẽ giảng hòa trước khi mặt trời ngã bóng. Tôi không thể thực thi những điều trên nếu tôi không có đức tin, cậy, mến và lòng khiêm nhường. Những động lực ấy thúc đẩy tôi trên hành trình đức tin mà Mẹ Maria cùng tiến những bước trong yêu thương với tôi.

Tháng Mười Một. Tôi ghi xuống đây lòng tri ân của tôi đối với Thiên Chúa, với Mẹ Ngài, với các Thiên Thần, các Ðấng Thánh, và các đẳng linh hồn. Các Ngài đã luôn đồng hành với tôi, cầu bầu và che chở. Tôi không quên cảm tạ những người đã làm ơn cho tôi, gia đình và bạn hữu, qua những tặng phẩm, qua những lời cầu nguyện. Tất cả đều có giá trị vật chất và tinh thần. Tất cả đều biểu hiệu một tình thương, đều mang ý nghĩa của một sự cho đi phần nào của chính mình. Nguyện Chúa Thánh Thần ban cho những người tôi thân thương các nguồn ơn phúc, và những hoa trái của Tình Yêu Người. Nguyện Mẹ Maria và các Thánh luôn che chở, phù trợ để Lửa Tình Yêu của Chúa Yêsu tiếp tục nung đốt lòng sốt mến trong mọi sự.

De Colores
Thu Hương

(Charlotte, North Carolina)
reginapacis2001@hotmail.com


Xin chân thành cảm tạ quý Soeur, quý Thầy Cô, toàn thể Regina Pacisiennes yêu dấu và quý thân hữu đã âm thầm ủng hộ hoặc chia xẻ ý kiến, tài liệu, thư từ, hình ảnh cùng tất cả các sáng tác nghệ thuật khác. Niềm khích lệ nhiệt tình vô cùng quý báu ấy của quý vị sẽ giúp cho trang nhà RP ngày càng thêm phong phú.

Mọi ý kiến xây dựng và bài vở đóng góp xin gửi về: webmaster@regina-pacis.info


  Regina Pacis Jardin web site is still under construction