|
|
|
Tiểu vương quốc Regina Pacis xin trân trọng gửi
đến quý vị và các bạn yêu chuộng nghệ thuật đôi giòng giới thiệu
về các tác giả và tác phẩm chọn lọc từng được mến mộ.
|
|
Georgia
O'Keeffe (1887-1986)
http://www.boulevardprinters.com/bio-georgia-okeeffe.html
Georgia O'Keeffe là
họa sĩ người Mỹ, chuyên về các tác phẩm trừu tượng. Nàng nổi tiếng
qua đường nét thuần khiết và trong sáng chấm phá từng bố cục trên
bức tĩnh vật. Georgia O'Keeffe sinh tại Sun Prairie, tiểu bang Wisconsin.
Nàng từng theo học tại the Art Institute of Chicago và the Art Students
League of New York. Nàng còn dạy các lớp mỹ thuật tại Texas từ 1913
đến 1918. Vào năm 1916, nhiếp ảnh gia Alfred Stieglitz, đồng thời
là giám đốc nhà trưng bày nghệ thuật (về sau là phu quân của nàng)
đã chú ý đến các tác phẩm trừu tượng của nàng và chưng bày một số
tại phòng trưng bày có tên "291" của ông tại thành phố New
York. Từ đó tác phẩm của Georgia O'Keeffe luôn được trưng bày tại
nơi ấy cho đến khi Alfred Stieglitz qua đời vào năm 1946. Ngoài
ra, tác phẩm của nàng còn được triễn lãm tại nhiều nơi có uy tín.
Năm 1949, Georgia O'Keeffe về sống tại New Mexico. Tại đây, tên
tuổi của nàng một lần nữa nổi bật qua các họa phẩm về hoa và phong
cảnh nơi sa mạc. Ðó là góc độ tuyệt vời của những bức tranh cận
cảnh. Có thể là đoá hoa đang nở hoặc chiếc xương đầu bò. Cho dù
nàng chỉ trình bày hoạ phẩm của mình với tính cách tượng trưng tiêu
biểu, song, nét đặt biệt của nó lại nổi bật. Màu sắc sáng rõ và
những nét táo bạo đã tạo ra những tác phẩm có tính trừu tượng đáng
kể. Một số hoạ phẩm nổi tiếng của nàng mang ảnh hưởng này. Trong
đó có thể kể bức tranh có chất đặc thù riêng như
Black Iris (1926, trưng bày tại Metropolitan Museum of
Art, thành phố New York). Ðó là đoá hoa được vẽ tỉ mỉ từng đường
nét và phóng thật to đến độ nó trở nên lạ lùng vô cùng và gây kinh
ngạc cho người thưởng lãm. Vào thập niên 1960, các chuyến du hành
trên cao lồng lộng đã gây cảm hứng cho nàng mang những đề tài như
trời cao, như mây rộng mà nàng đã nhìn thấy bên ngoài khung cửa
nhỏ trên từng chuyến bay vào trong tác phẩm của mình. Một trong
những hoạ phẩm lớn nhất của nàng là bức tranh vẽ trên tường có tên
Sky Above Clouds, rộng 7m3 (24 ft), bức tranh nằm trong bộ
sưu tập 1965 của tác giả. Nói chung, tác phẩm của Georgia O'Keeffe
được trưng bày nhiều nơi trên toàn lảnh thổ Hoa Kỳ. Nó có thể là
quốc hữu của Hoa Kỳ hoặc là sưu tập riêng của cá nhân.
Dưới đây là một số hoạ phẩm tiêu biểu của
Georgia O'keeffe:
1.
Morning Glory with Black, 1926,
Nàng là người hồn nhiên vô tư
("She is innocent", Alfred Stieglitz: husband). <
2.
Poppy, 1927, tranh sơn dầu
Everyone has many associations with a flower.
You put out your hand to touch it, or lean forward to smell
it, or maybe touch it with your lips almost without thinking,
or give it to someone to please them. But one rarely takes the
time to really see a flower. I have painted what each flower
is to me and I have painted it big enough so that others would
see what I see. (Georgia, catalog statement, 1926)
Chúng ta hẳn từng đứng trước một đoá hoa.
Từng đưa tay vuốt nhẹ, nghiêng mình cúi hôn đoá mỏng mảnh, tận
hưởng hương vị ngọt ngào đằm thắm không đắn đo do dự, cũng chẳng
màng mang đến tặng người thân quen. Song, lại có kẻ bỏ nhiều
thời gian nhìn ngắm thật sự. Tôi từng vẽ đóa hoa có ý nghĩa
riêng cho tôi và tôi muốn vẽ đủ to đủ lớn để mọi người có thể
nhìn ngắm đoá hoa tuyệt vời như chính tôi đã say sưa tận hưởng
vậy. (Georgia, 1926)
3.
Red Canna, 1923, tranh sơn dầu
"I found I could say things with color and
shapes that I couldn't say in any other way— things that I had
no words for. (Georgia, in the exhibition announcement, January
1923)
Tôi chỉ có thể bàn đến những vấn đề về màu
sắc và hình dáng, ngoài ra tôi không biết nói gì hơn -
Nói đến điều mà tôi không biết nói.
(Georgia , phát biểu trong buổi triễn lãm tháng 1, 1923)
4.
Yellow Calla, 1926, tranh sơn dầu
Those who wrote of "sex" in her flower paintings
had undoubtedly not studied the flowers to know how true was
her expression of them. Georgia did not care what was said.
It was impossible for her not to want to paint corollas, calyxes,
petals, stems—the essential parts of the flower with all their
depth of color and in their wondrous forms. She was painting
nature, as it seemed to her, exciting and wonderfully alive.
(Anita Pollitzer, from "A Woman On Paper: Georgia O'Keeffe"
Những tay cho rằng hoạ phẩm về hoa của nàng
chứa đầy dục tính thật chính là kẻ chẳng am hiểu xem xét cho
tường tận một đoá hoa để hiểu được mức diễn đạt của nàng trong
tác phẩm. Georgia không màng nghe dư luận bàn tán khen chê.
Nàng không thể không vẽ tràng hoa, đài hoa, cánh hoa, hoặc thân
cây cuống lá và cả tận gốc rễ - vẽ những phần thiết yếu của
đoá hoa với tất cả độ sâu của màu sắc và với những hình dáng
dị kỳ nhất. Thật ra, nàng đã vẽ hình thái của thiên nhiên. Ðối
với nàng, nó thật vô cùng kỳ thú và sống động.
(Anita Pollitzer , trong quyển "A
Woman On Paper: Georgia O'Keeffe")
5.
Gray Line with Black, Blue and Yellow, 1923, tranh sơn dầu
Anita — do you feel like flowers sometimes
?
(Georgia to Anita Pollitzer, October 1915 )
Anita ơi, trong một lúc nào đó có bao
giờ bồ tưởng như mình là những đoá hoa hay không ?
(Georgia viết cho Anita Pollitzer, tháng 10 năm 1915)
6.
Oak Leaves Pink and Gray, 1929, tranh sơn dầu
A In Oak Leaves, Pink and Gray, the
artist examines every crevice and vein of the leaves, exploring
the harmony of decay and rebirth in nature, a theme prevalent
in her work. Here, O'Keeffe has created a composition that is
both objective, because the leaves are a recognizable subject,
and abstract, because the broad expanse of color compels the
viewer to read the image in terms of pure form and color.
Qua tác phẩm này, nhà nghệ sĩ đã xem xét
tỉ mỉ từng đường nhăn kẻ nứt cũng như từng mạch máu đường gân
trên thân lá. Nàng muốn tìm ở đây nét hài hoà đồng điệu giữa
sự mục rữa và tái sinh của đất trời. Ðó là đề tài tiêu biểu
thường thấy trong tác phẩm của nàng. Ở đây, O'Keeffe đã tạo
ra bố cục có hai mục tiêu. Có thể nói, chiếc lá là chủ đề bằng
xương bằng thịt của tác phẩm, nhưng nó cũng mang tính chất trừu
tượng. Sự phối ảnh đầy sắc màu thúc đẩy người thưởng ngoạn đọc
được những đường nét qua hình thể thuần khiết và ý nghĩa của
màu sắc.
7.
Oriental Poppies, 1928, tranh sơn dầu
In 1923, O'Keeffe began painting flowers
and leaves, creating some of her best-known work. Oriental
Poppies and related flower paintings have been seen by some
scholars as her response to such modern photographers as Alfred
Stieglitz and Paul Strand, who "zoomed in" on and closely cropped
their subject in an attempt to discover its core essence. O'Keeffe
emulates this technique in her compositions. By creating an
oversized close-up of the poppies and removing them from any
discernible context, she abstracts the organic forms into black
and red shapes.
Vào năm 1923, O'Keeffe bắt đầu vẽ hoa và
lá, tạo ra những bức tranh cực kỳ nổi tiếng cho sự nghiệp của
nàng. Tác phẩm Oriental Poppies và những tác phẩm hoa
lá tương tự đã được một số sinh viên học sinh thưởng ngoạn,
như lời đáp của nàng gửi đến các nhiếp ảnh gia như Alfred Stieglitz
và Paul Strand. Chính họ đã thu ống kính thật gần chỉ giữ lấy
phần trọng tâm bức ảnh, phần thiết yếu mà họ tìm thấy nét đẹp
ở đó. O'Keeffe đã nắm bắt tuyệt chiêu này vào tác phẩm của mình.
Ðể tạo ra đoá poppy khổng lồ, O'Keeffe đã loại hẳn mọi vật hiện
hữu chung quanh nó, nàng cường điệu tác phẩm bằng những đườnng
nét chan hoà giữa đen và trắng.
Nguyệt Trinh
(Feb. 22, 2002)
vtruong@nova.umuc.edu
|
|
Herman
Maril (1908 - 1986)
http://www.umuc.edu/maril/maril_bio1.html
Herman Maril sinh năm
1908 tại thành phố Baltimore, tiểu bang Maryland. Ông là nhà họa
sĩ chuyên về phong cảnh, vùng biển và cảnh trí nội thất. Nét vẽ
của ông mang phong cách thuần khiết trữ tình, và đồng thời cũng
thật sâu sắc. Từ tuổi thiếu niên cho đến hết đời mình, ông đã theo
đuổi con đường nghệ thuật với tư tưởng riêng biệt của mình.
Ông từng phát biểu, "Nguồn sáng tác của tôi là
lời đáp với thiên nhiên và thế giới chung quanh. Tôi yêu mến ngôn
ngữ riêng của màu sơn tôi vẽ, và niềm suy nghĩ của tôi phải trang
trải trên từng phần, từng góc nơi khung vải. Tôi mong muốn tác phẩm
của mình đạt được điều cơ bản với tính chất hoà hợp độc nhất. Ðiều
này đòi hỏi sự thấu đáo và cảm nhận kiên trì không ngơi nghỉ về
cái nhìn trữ tình độc đáo trong nét tạo hình.
Herman Maril từng theo học mỹ thuật tại Maryland
Institute of Fine Arts. Những năm trong thời kỳ khủng hoảng ông
đã nhận và hoàn tất nhiều đề án từ chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ. Trong
thời Ðệ Nhị Thế Chiến khi phục vụ quân đội, ông đã sáng tác nhiều
hoạ phẩm. Sau chiến tranh, ông bắt đầu sự nghiêp của mình với vai
trò người thầy dạy các lớp hội hoạ tại University of Maryland. Hoạ
phẩm của ông được các nhà trưng bày nghệ thuật tại Washington, Baltimore
và New York giới thiệu rộng rãi, và còn được đoạt rất nhiều giải
và vô số phần thưởng.
Ðến nay, tác phẩm của Herman Maril đã có mặt
tại hơn sáu mươi viện bảo tàng và nhà chưng bày. Có thể kể, the
Baltimore Museum, Bronk Collection at Adirondack College, Butler
Institute of American Art, Cape Museum of Fine Arts, Cleveland Museum,
and Corcoran Gallery. Ngoài ra một số khác được tìm thấy tại Hyde
Collection, Phillips Collection, National Academy of Design, Provincetown
Art Association, Smithsonian's National Museum of American Art,
San Francisco Museum, Whitney Museum, Walters Art Museum, Wichita
Art Museum, Worcester Art Museum, và nhiều viện bảo tàng khác trên
toàn lảnh thổ Hoa Kỳ cũng như ở Châu Âu.
Dưới đây là một số hoạ phẩm tiêu biểu của
Herman Maril :
http://www.umuc.edu/maril/maril_main.html
Nguyệt Trinh
(Feb. 23, 2002)
vtruong@nova.umuc.edu
|
|
Giới thiệu
tác giả
: Nữ sĩ
Nikki Giovanni (1943 - ccyy)
http://voices.cla.umn.edu/authors/nikkigiovanni.html#Biography
" If I could come back as anything - I'd be
a bird, first, but definitely the command key is my second choice.
" (1)
Xin tạm dịch:
Nếu được quay về quá khứ, trước tiên tôi xin
làm cánh chim (freedom). Sau đó, sự lựa chọn thứ hai của tôi tuyệt
đối là quyền chỉ huy (power).
Nikki Giovanni tên
thật là Yolande Cornelia Giovanni, Jr., sinh ngày 7 tháng 6, năm
1943 tại Knoxville, Tennesse, nhưng lớn lên tại khu Lincoln Heights
ở Cincinnati, Ohio. Nàng bỏ dở trung học để vào Fisk University,
một trường đại học của người Mỹ da đen. Trong suốt thời gian là
sinh viên, nàng từng tham gia mạnh mẻ vào các cuộc đấu tranh bao
quanh nạn phân biệt chủng tộc cũng như con đường nghệ thuật. Nàng
còn tham gia cuộc vận động tổ chức nghệ thuật cho người Mỹ da đen
(Black Art Movement) và năm 1964 nàng cầm đầu ban chấp hành the
Student Nonviolent Coordinating Committee, đó là một tổ chức có
thế lực ảnh hưởng đến quyền bình đẳng của người Mỹ da đen hoặc các
sắc dân thiểu số, nói chung. Vào những năm 60, khi góp phần vào
các cuộc xung đột vây quanh nạn phân biệt chủng tộc, nàng từng là
biên tập viên của tạp chí văn học sinh viên. Trong thời gian này,
Giovanni bắt đầu nổi bật ở vị trí một nhà thơ có tư tưởng cách mạng
về quyền bình đẳng cho người Mỹ da đen (Black Rights poet).
Thơ của Giovanni trải dài hơn ba mươi năm, từ
tác phẩm đầu tay năm 1968 đến bộ sưu tập gần đây nhất, Blues For
All the Changes (1998). Cõi thơ toàn diện nhất của nàng, qua quyển
The Selected Poems of Nikki Giovanni (1996), người đọc nhận ra ngay
sự thay đổi thật lớn từ chất thơ có tính tranh luận hay sinh sự
sang hồn thơ thật riêng tư về bản thân mình. Tác phẩm chọn lọc hơn
100 bài thơ từ bảy tuyển tập khác nhau, trải dài từ những năm 1960
đến đầu 1980, trong đó có số bài trứ danh của nàng như Ego Tripping
(1973), Poem for Aretha, Woman Poem. Ngoài ra còn có một vài bài
trong các tác phẩm được xuất bản gần đây như A Poem for Langston
Hughes và But Since You Finally Asked (bài thơ tưởng niệm Ngày Ghi
Nhớ Người Nô Lệ, lần thứ 10 tại Mount Vernon). Nói chung, các bài
thơ này kể về một nhà thơ cách mạng, Nikki Giovanni. Nàng là người
mẹ, người thầy (Giovanni là giáo sư Anh Văn tại trường Virginia
Tech [Virginia Polytechnical Institute], 1998) (2), kẻ sinh tồn
qua căn bệnh ung thư, nàng còn là người yêu, và hơn cả, là một phụ
nữ người Mỹ da đen. Thơ của nàng thật riêng tư và cũng đầy chính
kiến, bao quanh thời cuộc xãy ra trong đời nàng. Như nàng đã viết,
"Thơ là tấm gương phản ảnh từng giai đoạn mà vũ trụ đến từ những
đặc thù riêng." Do đó, Giovanni diễn đạt thế gian chung quanh nàng
bằng hình ảnh uyển chuyển tột bậc của từng giai đoạn lịch sử và
riêng tư.
Giovanni viết cho người Mỹ của xã hội bất công
và đầy định kiến, đồng thời nàng cũng viết cho trẻ em. Như Lucille
Clifton, Giovanni viết thực tế nên dễ khiến độc giả say mê. Thơ
nàng dễ đọc, dễ hiểu và gần gũi người đọc, bất kể tuổi tác, màu
da, giới tính, hoặc tầng lớp trong xã hội. Tuy nhiên, nó cần điều
kiện tiên quyết đòi hỏi ở độc giả. Trong cuộc phỏng vấn của Arlene
Elder, Giovanni đã nhấn mạnh "Tôi không nghĩ người viết có thể thay
đổi được tư tưởng của độc giả bao giờ cả, mà tôi nghĩ mình nên thuyết
phục họ. Họ đây, là những người hiểu biết, sẵn sàng thông cảm, tha
thứ và chịu thay đổi." Tất cả điều ấy vô hình chung là phẩm chất
thơ và các sáng tác của nàng. Sau khi nhận bằng cử nhân về lịch
sử (1967), chẳng bao lâu Giovanni vay tiền để xuất bản tập thơ đầu
tiên của mình, Black Feeling, Black Talk (1968). Tiếp theo đó là
Black Judgement (1968) và Re: Creation (1970). Qua các tác phẩm
này, động cơ của nàng thật rõ ràng: tầm quan trọng nâng cao ý thức
về tư quyền của người Mỹ da đen.
Sau khi đứa con duy nhất của mình chào đời (Thomas
Watson Giovanni sinh ngày 31 tháng 8, năm 1969), Giovanni bắt đầu
sáng tác thơ nhi đồng. Bắt đầu từ Spin a Soft Black Song (1971),
Ego-Tripping (1973), Vacation Time (1980), The Geni in the Jar (1996),
The Sun Is So Quiet, cho đến Legacies. Ngoài ra Giovanni còn biên
soạn nhiều hợp tuyển văn thơ và tác phẩm văn xuôi, trong đó có cả
hồi ký, Gemini (1971), Sacred Cows ... and Other Edibles (1988)
và Racism 101 (1994). Tâm trạng cô đơn, niềm hy vọng bị cản trở,
ảnh hưởng gia đình đã chiếm phần quan trọng trong hồn thơ của nàng
giữa những năm 1970. Mối quan tâm về chính trị lại trở về với nàng
qua quyển Those Who Ride the Night Winds (1983), tác phẩm dành tưởng
nhớ các anh hùng anh thư người Mỹ da đen. Từ những năm 1960, Giovanni
từng là độc giả mộ điệu của chính giòng thơ mình, đồng thời nàng
còn là diễn giả được nhiều người yêu mến. (2)
1.
http://www.math.buffalo.edu/~sww/poetry/giovanni_nikki2.html#nikkibio
2.
http://www.umich.edu/~eng499/people/giovanni.html
Nguyệt Trinh
(Sept. 07, 2001)
vtruong@nova.umuc.edu
|
|
thơ cho
bạn hiền
/* cảm tác từ A Poem of Friendship
của nữ sĩ Nikki Giovanni */
--- về Tuyết Lan (7P2, 8P2, 9P2 và
mãi mãi) --
lòng ưu ái phải đâu vì tương ngộ
từ một ngày lá biếc ngát đời nhau
niềm yêu dấu là vầng trăng thiên cổ
bóng ân tình vằng vặc mãi ngàn sau
tình thật hiền không ở vạn mùa hoa
nở nụ cười xuân mọng chín môi hồng
tình đằm thắm chôn sâu giữa trời lạ
dấu lệ khô mang ép giữ bên lòng
tai chẳng ấm đón nghe lời chim sẻ
hót ru đời kể lể chuyện ngày đêm
tim tìm đến vì lời chưa mở hé
cứ ngập ngừng ray rứt kín khung rèm
đừng nhắc tên khi gió phủ mưa nhàu
hồn tiếc nuối bàn tay che kỷ niệm
còn nhớ nhau dù nắng vẫn tươi màu
gọi gió về trải mộng dưới vườn êm
Nguyệt Trinh
(Sept. 07, 2001)
vtruong@nova.umuc.edu
|
A Poem
of Friendship
Nikki Giovanni
(in Love Poems Nikki Giovanni )
We are not lovers
because of the love
we make
but the love
we have
We are not friends
because of the laughs
we spend
but the tears
we save
I don't want to be near you
for the thoughts we share
but the words we never have
to speak
I will never miss you
because of what we do
but what we are
together
|
Giới thiệu
tác giả:
Nhà thơ
Jacques Prévert (1790 - 1869)
http://www.multimania.com/jbouzou/
Jacques Prévert sinh
ngày 4, tháng 2 năm 1900 tại Neuilly-sur-Seine trong một gia đình
trung lưu. Cha của ông là một người sống hơi phóng lãng. Cụ làm
đủ mọi ngành nghề, đặc biệt cụ từng là nhà phê bình điện ảnh và
quen biết giới diễn viên và danh hài. Chính cụ là người đã truyền
lòng say mê sân khấu cho Jacques, cụ còn dắt Jacques vào tận hậu
trường để xem vỡ diễn. Ðến trường, ai muốn nghe chuyện kể ở nơi
kỳ thú ấy thì phải hậu tạ Jacques một tách trà. Ðiều này luôn xãy
ra lộ liễu, thậm chí còn đến tai nhà trường. Jacques cứ bất tuân
kỹ luật, đồng thời thường trốn học đi chơi. Cậu bé thích học thói
đời ngoài đường phố hơn ở trường lớp. Tuy nhiên, Jacques cũng hoàn
tất con đường học vấn của mình, có bằng cấp hẳn hòi và cuối cùng
đi vào ngành sư phạm. Một năm sau đó, người anh cả của Jacques qua
đời vì cơn sốt thương hàn.
Năm 1918, Jacques bị động viên, rồi sau đó được
giãi ngũ về Proche-Orient. Tại đây, Jacques quen biết được d' Yves
Tangy và de Marcel Duhamel. Năm 1925 cả ba cùng theo đuổi phe chủ
nghĩa siêu hiện thực. Qua năm sau thì gia nhập và đồng thời cũng
ly khai thật mau chóng. Họ rời bỏ phe ấy để tự thành lập nhóm le
Groupe de la rue du Château. Chẳng bao lâu thì có thêm Raymond Queneau
và Michel Leiris gia nhập. Chính trong thời điểm này, Jacques lập
gia đình cùng Simone Diense.
Năm 1928, Jacques cùng với người anh thứ (tên
Pierre) soạn thảo kịch bản phóng sự về Paris, mang nhan đề Souvenirs
de Paris còn được gọi là Paris-Express, nhưng cả hai chẳng cứu vãn
nổi hãng phim Roebuck Films của mình. Bộ phim bị thất bại thảm hại.
Năm 1930 tạp chí BIFUR xuất bản bài thơ đầu tay
của Jacques, Souvenir de Famille ou l'Ange garde-chiourme. Ðến năm
1932 thì xuất hiện trên COMMERCE, Tentative de Description d'un
di^ner de têtes à Paris-France. Năm 1932, đoàn kịch Prémices nhờ
Jacques viết bài cho họ. Chính đoàn này về sau trở thành kịch đoàn
Octobre nổi tiếng. Jacques đã viết cho họ rất nhiều thơ, hợp xướng,
lời đối thoại mà ông chế riễu trêu ghẹo nhà thờ, quân đội, tầng
lớp tiểu tư sản, v.v... Cũng vào năm ấy, vợ Jacques rời bỏ ông.
Ông đã viết một câu thơ trong thời điểm này, "L'affaire est dans
le sac." (Xin tạm dịch, quan hệ con người ta nằm trong chiếc túi).
Jacques từng cộng tác với anh mình là Pierre, dựng ra nhiều bộ phim
đáng kể như Le Crime de M. Lange, Jenny, Drôle de Drame, Quai des
Brumes, Le Jour se Lève, Les Visiteurs du Soir, Les Enfants du Paradis,
Les Portes de la Nuit. Trong những năm soạn kịch bản, Jacques vẫn
không ngừng làm thơ. Người ta nhận rõ chất thơ của ông lồng lộng
trong kịch bản, đó là đời sống hiện thực qua những câu ngắn ngủi,
hình ảnh, v.v...
Năm 1945, trong thời kỳ bị quân Ðức chiếm đóng
thi tập của ông được thầy trò trường Lycée REIMS xuất bản dù bị
kiểm duyệt và còn bị cấm chỉ. Chính thi phẩm này về sau là quyển
Paroles. Một năm sau đó, ông xuất bản nhiều sách nhi đồng Contes
pour Enfants pas Sages, và Joseph Kosma bắt đầu phổ thành nhạc những
bài như Barbara, Les Enfants qui S'aiment. Ngoài ra còn có thi tập
Histoires được xuất bản vào năm 1946.
Năm 1948, Jacques bị ngã té xuống vĩa hè và bị
hôn mê nhiều ngày. Sau đó, ông nhập viện vào Saint-Paul ở Vence.
Chính tại đây, ông đã viết Spectacle, rồi đến Grad Bal de Printemps
và La Pluie et le Beau Temps. Năm 1955 ông trở về Paris để đón nhận
danh tiếng lẫy lừng qua các tác phẩm nghệ thuật của mình cùng với
kịch bản chuyển thể từ tác phẩm Notre Dame de Paris của Victor Hugo.
Năm 1962, ông cùng với André Villers và Pablo
Picasso xuất bản hai quyển ảnh ký Peintures et Collage và Choses
et Autres. Một năm sau là quyển Histoire et d'Autres Histoires,
tiếp theo là quyển Histories.
Năm 1973, các biến chứng đầu tiên về đường hô
hấp của Jacques bộc phát, sau nhiều năm sức khoẻ của ông bị hành
hạ vì hậu quả của thuốc lá. Cơn bệnh khiến ông phải nhập viện và
còn hoành hành ông đến yếu đi rất nhiều. Jacques Prévert từ giã
cõi đời ngày 11 tháng 4, năm 1977.
Nguyệt Trinh
(July 27, 2001)
vtruong@nova.umuc.edu
|
|
suối trắng
/* cảm tác từ Le Ruisseau
của nhà thơ Jacques Prévert */
mênh mông nước chảy qua cầu
máu đào cuồn cuộn từ đâu vô ngần
có giòng suối trắng liều thân
vỡ oà thác đổ dưới chân cuộc tình
vườn trăng lộng gió xuân đình
tháng năm nhã nhạc cung nghinh đón người
lặng thinh con suối không lời
là vầng trăng toả bồi hồi tim tôi
hoá thân xanh bóng mặt trời
là đôi mắt biếc của người long lanh
Nguyệt Trinh
(July 27, 2001)
vtruong@nova.umuc.edu
|
le ruisseau
Jacques Prévert
http://www.multimania.com/jbouzou/
Beaucoup d'eau a passé sous les ponts
Et puis aussi énormément de sang
Mais aux pieds de l'amour
Coule un grand ruisseau blanc
Et dans les jardins de la lune
Où tous les jours c'est ta fête
Ce ruisseau chante en dormant
Et cette lune c'est ma tête
Où tourne un grand soleil bleu
Et ce soleil c'est tes yeux
|
|
Giới thiệu
tác giả
: Nhà thơ
Paul Verlaine
(1844 - 1896)
Paul Verlaine (Paul
Marie Verlaine) sinh ngày 30 tháng 3 năm 1844 tại Metz, nơi cha
ông đóng quân. Như mọi đứa trẻ con một, Paul được nâng niu và cưng
chìu hơi thái quá. Ngay từ bé, ông đã biểu lộ bản tính nghịch ngợm
và phá phách hoang tàn đến nổi cha mẹ phải quyết định gửi ông đi
trọ học. Trái ngược hẳn với Rimbaud, chỉ là một học sinh đầy năng
khiếu. Paul từng có văn bằng tú tài và theo luật khoa. Tuy nhiên,
ông lại sống cuộc đời hết sức tầm thường và rất dễ bị lôi cuốn vào
rượu chè và đời sống phóng đãng rày đây mai đó. Người ta từng thấy
ông la cà trong các quán rượu và thường tới lui giao du với giới
văn chương tại Paris.
Năm 1866 ông xuất bản thành công tác phẩm Poèmes
Saturniens. Thế nhưng, ảnh hưởng bởi rượu chè khiến ông gây nhiều
tai tiếng. Vào năm 1869, ông đính hôn cùng người con gái trẻ chỉ
mới mười sáu tuổi, tên Mathilde Mauté và thành hôn với nàng vào
một năm sau đó. Tiếp theo ấy, ông xuất bản tác phẩm Fêtes Galantes.
Thời gian này, nhà thơ như đã khôn ngoan chững chạc ra và cuộc sống
ông cũng trở nên thật yên bình. Liền đó, ông sáng tác La Bonne Chanson,
dành cho Mathilde, nhưng thi tập này bị dư luận đặt nhiều nghi vấn,
cho rằng ông đặt riêng tâm tư vào tác phẩm đến cuộc chiến mà ông
từng tham gia vì trong phong trào nổi dậy ông đã gia nhập vào khởi
nghĩa quân.
Năm 1871, ông gặp gỡ nhà thơ trẻ tuổi Arthur
Rimbaud. Bị quyến rũ bởi tài của chàng trai trẻ này, ông liền bỏ
Paris. Trong thời gian thật ngắn, Rimbaud đã khiến ông trở nên sa
đoạ, trụy lạc. Cả hai cùng lộ liễu la cà đến các quán rượu hộp đêm
và đã gây thật nhiều tai tiếng thị phi. Paul luôn cãi nhau với Mathilda,
thường là do say sưa mà ra. Mặc dù mối bất hoà giữa hai vợ chồng
cứ liên tục xãy đến, họ vẫn có với nhau một người con trai, đặt
tên Georges.
Trong giai đoạn khi Rimbaud quay về Charleville,
thì đời sống của vợ chồng ông được bình yên một lúc. Nhưng chẳng
bao lâu, Rimbaud trở lại, và cả hai cùng nhau trốn sang Bỉ. Mathilda
tìm đủ cách để lôi kéo chồng trở lại, nhưng mọi cố gắng đều bất
thành. Bị lôi cuốn theo cuộc sống bấp bênh của Rimbaud, cả hai lại
bỏ sang Luân Ðôn. Ngay lần này, chính mẹ của Paul phải ra sức buộc
ông trở về con đường chân chính, nhưng bà cũng chẳng đạt được kết
quả gì khá hơn Mathilda. Cuối cùng, chính Rimbaud là người đầu tiên
mệt mỏi cuộc sống phiêu lưu lãng tử và quyết định từ bỏ Paul. Trước
biến cố này, nhà thơ vô cùng khủng hoảng nên đã bắn một phát súng
ngắn vào cánh tay Rimbaud. Kết quả, ông bị kết án hai năm tù. Ngay
thời gian bị giam giữ ông chợt tìm ra niềm tin của mình. Chính trong
giai đoạn ấy, ông sáng tác Romances sans Paroles.
Sau khi được phóng thích, ông trở nên mềm mỏng
thấu đáo hơn. Ông quay về Anh Quốc giảng dạy hội hoạ và Pháp Văn.
Năm 1880, ông xuất bản tác phảm Sagesse nhưng lại bị thất bại hoàn
toàn. Năm 1882, ông trở lại Paris. Khi ấy, vợ ông từ bỏ cuộc sống
chung của hai người. Ðến năm 1886 thì nàng xin ly dị. Cùng thời
gian ấy, Rimbaud bỏ đi Ethiopie. Thế là một lần nữa, ông lại chìm
đắm trong say sưa. Luôn bị quyến rũ bởi Rimbaud, ông gia tâm công
bố tác phẩm riêng của mình cùng với các sáng tác chung của hai người
như Jadis et Naguère ra mắt năm 1884, và Parallèlement năm 1889.
Kiếm được bao nhiêu tiền thì ông lại say sưa
chè chén hết bấy nhiêu, đến nổi bạn bè như Barrès, Bourget, v.v.
... phải cùng nhau gom góp để trợ giúp ông. Là một người hiếu động,
ông ứng cử vào Hàn Lâm Viện nhưng chẳng được ai đề bạt. Tuy nhiên
vào năm 1894, Paul được vinh danh là Prince des Poètes, xin tạm
dịch "ông hoàng của các nhà thơ."
Paul Verlain mất ngày 9 tháng 1, năm 1896 vì
chứng xuất huyết phổi. Khi ấy, cả Paris hoàn trả lòng tôn kính ngưỡng
mộ lại cho ông. Từ một người từng bị mệnh danh là người nghệ sĩ
suy đồi, thi sĩ nghiện ngập ông được nhìn nhận là nhà thơ tài năng
vô song với những tác phẩm chứa đầy nhạc tính. Hàng ngàn dân Paris
xếp thành hàng rào trước chiếc xe tang của ông trên đường đến nghĩa
trang, đi qua khu Quartier Latin, nơi mà chỉ mới vừa đây thôi, ông
thường tới lui các quán hàng tồi tàn và tiệm rượu.
Có thể nói, không nghi ngờ mảy may rằng Paul
Verlaine là một trong những nhà thơ lớn ở cuối thế kỷ 19.
--------------------
http://www.sunderland.ac.uk/~os0tmc/chemin/symbol.htm
Các nhà thơ theo trường
phái tượng trưng như Stéphane Mallarmé và Paul Verlaine có cái nhìn
về thơ là sự tự diễn đạt và tự nó thuyết phục mà không cần phải
có bất cứ một tác động nào bên ngoài ảnh hưởng đến. Một cách làm
cho thơ thêm xúc cảm và thi tứ, là biết khai thác tận dụng hết nhạc
tính của từ ngữ. Thật chẳng có gì lấy làm ngạc nhiên trong tư tưởng
cho rằng thơ theo trường phái tượng trưng chính là âm nhạc. Ở đây,
nhà thơ cần lưu tâm vào nhạc tính của thơ, từ nét tao nhã mềm mại
du dương của vần trùng âm hoặc khác âm của từng chữ. Có thể nói,
Paul Verlaine đã thành công xuất sắc trong cách vận dụng nhạc tính
của thơ để làm tiền đề trong các tác phẩm của mình như, Poèmes Saturniens
(1866), Fêtes Galantes (1869), và Romances sans Paroles (1874).
Cảm giác đầu tiên mà người thưởng ngoạn nhận thức được khi đọc thơ
ông lần thứ nhất không phải ở ý nghĩa của nó. Mà là sự kết hợp,
hoà điệu khéo léo huyền ảo từ âm điệu du dương. Xin lấy bài thơ
Chanson d' Automne dưới đây của ông trong thi phẩm Romances sans
Paroles làm ví dụ.
Cách thứ hai làm cho thơ thêm xúc cảm và thi
tứ là làm cho nó gợi lên cảm giác sâu sắc và niềm suy nghĩ thâm
trầm, như điều mà âm nhạc mang đến cho người thưởng ngoạn. Cảm giác
và suy nghĩ ấy phải được diễn đạt thế nào mà tránh cho người đọc
có thể định rõ được một cách quá trần trụi, nó là gì hoặc do từ
đâu. Nói cách khác, thơ cần phải mơ hồ du dương như giòng âm nhạc,
nghĩa là ý tứ cảm xúc của nó không thể bị xác định hoặc dịch giải
trong bất cứ giới hạn nào. Như Stéphane Mallarmé đã điểm một câu
từ bài Toute l'âme Resumée trong thi phẩm Poésies của ông.
Le sens trop précis rature
Ta vague littérature
Xin tạm dịch:
cảm giác quá trần trụi
bôi xoá đi nét thơ huyền ảo của người.
|
|
thu ca
/* cảm tác từ Chanson D' Automne
của nhà thơ Paul Verlaine */
cứ ngân hoài thổn thức
xé tim, khúc vĩ cầm
bài thu ca ray rứt
đơn điệu lời buồn câm
bốn phương trời chất ngất
vang vọng dấu thời gian
ta tìm về ký ức
khóc ru giấc mộng tàn
thôi rồi, ta sẽ đi
bay theo triền gió lạ
bên nớ về bên ni
như lá chết la đà
Nguyệt Trinh
(July 12, 2001)
vtruong@nova.umuc.edu
|
Chanson
D'Automne
Paul Verlaine
http://www.multimania.com/jbouzou/
Les sanglots longs
Des violons de l'automne
Blessent mon coeur
D'une langueur
Monotone.
Tout suffocant
Et blême, quand
Sonne l'heure,
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure;
Et je m'en vais
Au vent mauvais
Qui m'emporte
Deçà, delà
Pareil à la
Feuille morte.
|
|
Xin chân thành cảm tạ quý Soeur, quý Thầy Cô,
toàn thể Regina Pacisiennes yêu dấu và quý thân hữu đã âm thầm ủng
hộ hoặc chia xẻ ý kiến, tài liệu, thư từ, hình ảnh cùng tất cả các
sáng tác nghệ thuật khác. Niềm khích lệ nhiệt tình vô cùng quý báu
ấy của quý vị sẽ giúp cho trang nhà RP ngày càng thêm phong phú.
Mọi ý kiến xây dựng và bài vở đóng góp xin gửi
về: webmaster@regina-pacis.info
|
Regina
Pacis Art/Author web site is still under construction
|